vanban.org

Bản án 60/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 29/12/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Bá N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 194; điểm o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Bá N 04 (bốn) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Huỳnh Bá Ngữ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Bá N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 194 Bộ luật hình sự xử phạt; Điều 47 Bộ luật hình sự xử phạt
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60 /2017/HSST
Ngày 29/12/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH QUẢNG NAM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phƣợng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Mậu Thảo

Bà Lê Thị Kim Phụng

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ái Linh- Cán bộ Toà án nhân dân huyện Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: ông Mai Xuân Đáp- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 53/2017/HSST ngày 21 tháng 11 năm 2017 đối với bị cáo:

Huỳnh Bá N, sinh năm 1991; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú: thôn M, xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; con ông Huỳnh Bá T và bà Ngô Thị T; Vợ: Trần Lê Từ V (sinh: 1994), nghề nghiệp: Nội trợ và trú tại thôn M, xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam. Có hai con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 31 tháng 8 năm 2017, chuyển sang tạm giam ngày 01 tháng 9 năm 2017; có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ ông Trương Quang Đ, sinh năm 1996 (vắng mặt).

Trú tại: Thôn G, xã M, huyện Đ, Quảng Nam.

2/ ông Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1986 (vắng mặt).

Trú tại: Thôn T, xã C, huyện Đ, Quảng Nam.

NHẬN THẤY:

Bị cáo Huỳnh Bá Ngữ bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 30/8/2017, Huỳnh Bá N từ nhà đi xe buýt xuống thị xã B, tỉnh Quảng Nam mua 01 gói ma túy đá với giá 800.000 (tám trăm nghìn) đồng của một đối tượng tên T (không xác định được nhân thân lai lịch). N đem gói ma túy đá này về phân thành 03 gói nhỏ với mục đích sử dụng và bán kiếm lời. Khoảng 12 giờ ngày 30/8/2017, Trương Quang Đ (SN 1996, trú thôn G, xã M) gọi điện thoại vào số 0935325242 của N hỏi mua ma túy đá thì N đồng ý bán cho Đ 01 gói ma túy đá với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ở trước nhà N tại thôn M, xã P. Bằng cách thức như trên, đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Đ gọi điện hỏi mua ma túy thì N bán cho Đ 01 gói ma túy đá với giá 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Khoảng trưa ngày 31/8/2017, N lấy gói ma túy ra sử dụng một ít sau đó Đ gọi điện hỏi mua ma túy thì N đồng ý bán. Đến khoảng 12 giờ 30 cùng ngày, khi Đ đến trước hiên nhà của N, N bán 01 gói ma túy đá cho Đ và nhận số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng từ Đ thì bị lực lượng Công an huyện Đ bắt quả tang, thu giữ trên người Đạt 01 gói ni lông màu trắng bên trong có chứa chất rắn màu trắng nghi là chất ma túy, thu giữ của Huỳnh Bá N 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam và 01 điện thoại di động Iphone 5, màu trắng, bên trong có sim số 0935325242. Công an huyện Đ tiến hành niêm phong tang vật và đưa các đối tượng về làm việc. Quá trình làm việc, đối tượng Trương Quang Đ bỏ trốn khỏi trụ sở, Công an huyện Đ đã tiến hành lập biên bản về việc đối tượng bỏ trốn.

Qua quá trình điều tra, Huỳnh Bá N còn khai nhận, khoảng 21 giờ ngày 22/8/2017, N bán 01 gói ma túy đá với giá 500.000 (năm trăm nghìn) đồng cho Nguyễn Ngọc V (SN 1986, trú thôn T, xã C). Số ma túy này do N mua của đối tượng tên T ở thị xã B. Nguyễn Ngọc V đã thừa nhận hành vi mua ma túy đá về để sử dụng.

Ngày 07/9/2017, cơ quan CSĐT Công an huyện Đ ra quyết định trưng cầu giám định đối với vật chứng của vụ án là 01 gói ni lông bên trong chứa chất rắn màu trắng nghi là chất ma túy thu được trên người của Trương Quang Đ. Tại kết luận số 608/C54C(Đ4) ngày 08/9/2017 của Phân viện Khoa học Hình sự - Bộ Công an tại thành phố Đà Nẵng kết luận: “Chất rắn màu trắng (dạng tinh thể) đựng trong 01 (một) gói ni lông được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu số 01 gửi giám định là ma túy, có trọng lượng: 0,098 gam, là loại Methamphetamine”. (BL: 24-27 )

Vật chứng của vụ án:

- 01 gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng nghi là chất ma túy được niêm phong trong phong bì có chữ ký giáp lai của Trương Quang Đ, Trương Minh T, Trần Văn T, Huỳnh Bá N (ký hiệu 01). Vật chứng này được gửi đến Phân Viện khoa học hình sự - Bộ Công an tại thành phố Đà Nẵng để giám định và đã phân tích hết trong quá trình giám định.

- 01 điện thoại di động Iphone 5 (đã qua sử dụng), màu trắng, bên trong có sim số 0935325242 của Huỳnh Bá N (Vật chứng này đã được niêm phong, hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ quản lý).

- Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 (năm mươi nghìn) đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 20.000 (hai mươi nghìn) đồng và 01 tờ mệnh giá 10.000 (mười nghìn) đồng thu giữ trên người Huỳnh Bá N. (Hiện đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ).

Quá trình điều tra, Huỳnh Bá N đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được.

Với nội dung trên tại bản Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 20 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Huỳnh Bá N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

XÉT THẤY:

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Huỳnh Bá N khai nhận: Từ ngày 22/8/2017 đến ngày 31/8/2017, Huỳnh Bá N đã có hành vi bán ma túy (dạng ma túy đá) cho Nguyễn Ngọc V và Trương Quang Đ mua để sử dụng. Lúc 12 giờ 30 phút ngày 31/8/2017 tại thôn M, xã P, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam, khi Huỳnh Bá N đang bán ma túy cho Trương Quang Đ thì bị Công an huyện Đ bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện Đ lập vào hồi 12 giờ 45 phút ngày 31 tháng 8 năm 2017, kết luận giám định số 608/C45C(Đ4) của Phân viện khoa học hình sự- Bộ công an tại thành phố Đà Nẵng ngày 08 tháng 9 năm 2017, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; cùng với các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáo Huỳnh Bá N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội nhiều lần” theo quy định tại khoản điểm b khoản 2 Điều 194 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 20 tháng 11 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Bá N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; các điểm o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Huỳnh Bá N mức án từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.

Xét hành phạm tội, tính chất tác hại và hậu quả của vụ án thì thấy:

Ma túy là chất độc hại gây nghiện nên Nhà nước độc quyền quản lý, bị cáo nhận thức rõ Nhà nước nghiêm cấm việc mua bán, tàng trữ, sử dụng chất ma túy nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần cho người khác nhằm thu lợi bất chính. Hành vi của bị cáo có tính chất nguy hiểm cho xã hội, thực hiện việc phạm tội do cố ý trực tiếp. Hành vi đó đã vi phạm điều cấm, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước về chất gây nghiện, làm phát tán chất ma túy trong cộng đồng, gây mất trật tự xã hội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo để ren đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng, khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nhận tội, đã tỏ ra ăn năn hối hận, tự thú khai báo các lần phạm tội trước. Bị cáo là lao động chính trong gia đình đang nuôi hai con nhỏ. Bị cáo có cha ruột được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, Huy chương chiến sĩ vẻ vang và nhiều hình thức khen thưởng kháccác. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự, nên có xem xét giảm nhẹ hình phạt và áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo là phù hợp với quy định pháp luật.

Trong vụ án này, Trương Quang Đ đã có ba lần mua ma túy của Huỳnh Bá N về để sử dụng. Quá trình làm việc, Đ đã bỏ trốn khỏi trụ sở Công an huyện Đ. Căn cứ vào nhân thân của Đ tự khai, cơ quan CSĐT Công an huyện Đ đã tiến hành xác minh nhưng không có kết quả, cơ quan CSĐT Công an huyện Đ tách ra để điều tra, xử lý sau.

Nguyễn Ngọc V đã có hành vi mua ma túy của Huỳnh Bá N để sử dụng. Công an huyện Đ đã xử phạt hành chính đối với Nguyễn Ngọc V là phù hợp.

Đối với đối tượng tên T mà Huỳnh Bá N khai nhận mua ma túy, qua điều tra chưa xác minh được nhân thân lai lịch nên điều tra xử lý sau.

Huỳnh Bá N có hành vi mua bán trái phép chất ma túy trước nhà của N tại thôn M, xã P nhưng người thân của N không hay biết nên không đề cập xử lý. Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, N đã bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính là thỏa đáng.

* Về xử lý vật chứng:

- 01 gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa chất rắn màu trắng nghi là chất ma túy được niêm phong trong phong bì có chữ ký giáp lai của Trương Quang Đ, Trương Minh T, Trần Văn T, Huỳnh Bá N (ký hiệu 01). Vật chứng này được gửi đến Phân Viện khoa học hình sự - Bộ Công an tại thành phố Đà Nẵng để giám định và đã phân tích hết trong quá trình giám định nên HĐXX không xem xét.

- Xét thấy cần tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone 5 (đã qua sử dụng), màu trắng, bên trong có sim số 0935325242 của Huỳnh Bá N (Vật chứng này đã được niêm phong, hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ quản lý).

- Số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 (năm mươi nghìn) đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 20.000 (hai mươi nghìn) đồng và 01 tờ mệnh giá 10.000 (mười nghìn) đồng thu giữ trên người Huỳnh Bá N. (Hiện đang tạm gửi tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ) cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.

* Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Bá N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 194; điểm o, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Bá N 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ là ngày 31 tháng 8 năm 2017.

Phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Huỳnh Bá N 5.000.000 (năm triệu) đồng.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 41 của Bộ luật hình sự và Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu, sung quỹ Nhà nước : 01 điện thoại di động Iphone 5 (đã qua sử dụng), màu trắng, bên trong có sim số 0935325242 của Huỳnh Bá N(Vật chứng này đã được niêm phong, hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ quản lý).

- Truy thu bị cáo N số tiền 1.100.000 (một triệu một trăm ngàn) đồng (do mua bán ma túy cho Trương Quang Đ 02 lần: Lần thứ nhất 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, lần thứ hai 300.000 (ba trăm ngàn) đồng; bán cho Nguyễn Ngọc V 500.000 đồng) đồng để sung quỹ Nhà nước.

- Sung công quỹ Nhà nước số tiền 300.000 (ba trăm ngàn) đồng (số tiền này đã được Công an huyện Đ gửi vào tài khoản số 3949.0.1053629 tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ vào ngày 15 tháng 9 năm 2017).

* Về án phí: Áp dụng Điều 99 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về Án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Huỳnh Bá N phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- VÒ quyÒn kh¸ng c¸o: Trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n, bÞ c¸o cã mÆt t¹i phiªn Toµ cã quyÒn kh¸ng c¸o b¶n ¸n. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án ®Ó yªu cÇu Tßa ¸n nh©n d©n tØnh Qu¶ng Nam xÐt xö phóc thÈm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Q.Nam;

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

- VKSND H. Đ;

- Công an H. Đ;

- Bị cáo;

- Người có QLNVLQ;

- Chi cục THADS H.Đ;

- Sở tư pháp tỉnh Q.Nam;

Nguyễn Thị Hồng Phƣợng

- Lưu hồ sơ vụ án.

Héi ®ång xÐt xö

HỘI THẨM NHÂN DÂN

ThÈm ph¸n - chñ täa phiªn tßa

Nguyễn Thị Hồng Phƣợng

Cỡ chữ