vanban.org

Bản án 60/2017/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với bà Trần Thị Ngọc S

Buộc bà Trần Thị Ngọc S phải thanh toán cho của Ngân hàng A tổng số nợ còn lại tính đến ngày 07/9/2017 là 20.148.000đ (hai mươi triệu một trăm bốn mươi tám nghìn đồng), trong đó tiền gốc là 12.663.230đ (mười hai triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn hai trăm ba mươi đồng), tiền lãi là 7.484.770đ ( Bảy tr… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng A- Trần Thị Ngọc S"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với bà Trần Thị Ngọc S
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BÀ RỊA
TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 60/2017/DS – ST
Ngày: 07/9/2017
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BÀ RỊA, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm, gồm có :

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Văn Thị Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Công

2. Bà Nguyễn Thị Tuyết Hồng

Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Thùy Trang– Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sanh- Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2017/TLST- DS ngày 02-3-2017 về tranh chấp “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2017/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2017/QĐST –DS ngày 18/8/2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng A(VP Bank).

Địa chỉ trụ sở chính: Tầng 1-7 Tòa nhà T, số 72 đường M, phường T , quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hiền T – Chức vụ: Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý kiêm quản lý pháp chế cho phòng an ninh và phòng kiểm soát gian lận, phòng thu hồi nợ pháp lý, trung tâm thu hồi nợ - Khối tín dụng tiêu dùng – Ngân hàng A (Theo văn bản ủy quyền số 16/2017/UQ-CT ngày 08/2/2017 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng A);

Ông Lê Hiền T ủy quyền lại cho ông Dương Thanh T, sinh năm 1987;

HKTT: Tổ 16, ấp Đ, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Địa chỉ liên hệ: Số 544 đường C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (Theo Văn bản ủy quyền số 23/2016/UQ-GĐK-TDTD ngày 25/12/2016 của Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý kiêm quản lý pháp chế cho phòng an ninh và phòng kiểm soát gian lận, phòng thu hồi nợ pháp lý, trung tâm thu hồi nợ - Khối tín dụng tiêu dùng – Ngân hàng A).

Ngày 01/9/2017, ông Lê Hiền T-Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý kiêm quản lý pháp chế cho phòng an ninh và phòng kiểm soát gian lận, phòng thu hồi nợ pháp lý, trung tâm thu hồi nợ - Khối tín dụng tiêu dùng – Ngân hàng A đã có văn bản số 55/2017/UQ-GĐK-TDTD ủy quyền lại cho ông Dương Thanh Q, sinh năm 1979 (có mặt).

HKTT: ấp Đ, xã H, thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Địa chỉ liên hệ: Số 544 đường C, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Bị đơn: Bà Trần Thị Ngọc S, sinh năm 1973(có mặt).

Trú tại: Số 363/6 khu phố 1, phường N, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 25-12-2016, quá trình hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:

Ngày 04/12/2014, bà Trần Thị Ngọc S có ký hợp đồng tín dụng số hiệu hồ sơ số N 334511với Ngân hàng Avay số tiền 21.000.000 đ, lãi 3.75%/tháng tính theo dư nợ gốc trả giảm dần, để vay tiêu dùng cá nhân, không có thế chấp tài sản.

Theo thỏa thuận hợp đồng, bà S có trách nhiệm thanh toán số tiền 32.206.000đ. Trong đó tiền gốc là 21.000.000đ, tiền lãi là 11.206.000đ, trả chậm trong 24 tháng, theo đó 23 tháng đầu mỗi tháng trả 1.343.000 đồng, tháng cuối trả 1.317.000.đồng, thanh toán vào ngày 13 hằng tháng. Bắt đầu thanh toán từ ngày 13/01/2015.

Thực hiện hợp đồng, bà S đã nhận đủ số tiền đã vay và thanh toán cho Ngân hàng 06 kỳ với tổng số tiền 8.058.000đ, trong đó tiền gốc 4.336.770 đ và lãi 3.721.230đ. Từ ngày 10/03/2016 bà S không đóng bất kỳ khoản nào cho Ngân hàng nữa.

Ngày 23/01/2017, bà S thanh toán thêm cho ngân hàng 1.000.000đ.

Ngày 01/03/2017, bà S thanh toán thêm cho ngân hàng 1.000.000đ.

Ngày 06/3/2017, bà S thanh toán thêm cho ngân hàng 2.000.000đ.

Vậy, đến thời điểm hiện nay, bà S còn nợ ngân hàng số tiền 20.148.000đ

Nay ngân hàng đề nghị Tòa án buộc bà Trần Thị Ngọc S phải thanh toán cho Ngân hàng Asố tiền còn nợ 20.148.000đ, trong đó tiền gốc là 12.663.230đ, tiền lãi là 7.484.770đ.

Ngân hàng xác định chỉ yêu cầu cá nhân bà Trần Thị Ngọc S có trách nhiệm thanh toán nợ ngân hàng, vì bà S vay với mục đích là tiêu dùng cá nhân nên Ngân hàng không yêu cầu chồng bà S cùng có trách nhiệm thanh toán nợ cho ngân hàng.

Tại bản khai khai ngày 20/3/2017 quá trình hòa giải và tại phiên tòa bị đơn bà Trần Thị Ngọc S trình bày:

Về tất cả quá trình ký kết các hợp đồng tín dụng giữa bà và Ngân hàng A, về số nợ gốc và lãi tồn đọng bà đồng ý với lời trình bày của Ngân hàng. Tuy nhiên hiện nay bà cũng đang rất khó khăn, nhà phải đi thuê, lại đang bị tai nạn giao thông bị gãy tay nên bà không có khả năng thanh toán một lần cho Ngân hàng.

Bà đã thanh toán cho Ngân hàng được 09 kỳ với tổng số tiền là 12.058.000đ , trong đó tiền gốc 8.336.770 đ và lãi 3.721.230đ. Bà xác nhận số tiền nợ gốc bà còn nợ Ngân hàng là 20.148.000đ, trong đó tiền gốc là 12.663.230đ, tiền lãi là 7.484.770đ. Nay trước yêu cầu của Ngân hàng bà đề nghị Ngân hàng cho bà thanh toán mỗi tháng 1.000.000đ cho tới khi hết toàn bộ số nợ.

Bà S xác định số nợ trên bà vay với mục đích tiêu dùng cá nhân, không liên quan đến chồng bà, nên bà sẽ có trách nhiệm thanh toán cho ngân hàng.

Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bà Rịa kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự có ý kiến nhƣ sau:

-Về tố tụng: Kiểm sát viên kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng và đủ quyền, nghĩa vụ của mình theo Bộ luật tố tụng dân sự.

Vụ án từ khi thụ lý cho đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đã tuân thủ đúng thời hạn xét xử theo quy định.

-Về nội dung: xét yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

-Về tố tụng: Ngân hàng A khởi kiện bà Trần Thị Ngọc S về tranh chấp hợp đồng tín dụng không có mục đích kinh doanh được ký kết giữa các bên, nên Tòa án xác định đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú tại thành phố Bà Rịa nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

-Về nội dung:

Lời khai của đại diện Ngân hàng A tại phiên tòa hôm nay về quá trình ký kết và nội dung hợp đồng tín dụng, hoàn toàn phù hợp với chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án gồm: Bản sao đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số hiệu hồ sơ N 33451.

Do vậy, Hội đồng xét xử có căn cứ để kết luận: bà S đã đã ký hợp đồng tín dụng vay của Ngân hàng A số tiền gốc là 21.200.000đ đ,với lãi suất 3.75%/tháng là có thật. Bà S là người vay tiền và đã nhận đầy đủ số tiền vay, kỳ hạn trả nợ lần đầu ngày 13/01/2015 và kỳ hạn trả nợ cuối cùng là ngày 13/12/2016. Tuy nhiên bà S mới thanh toán được 09 kỳ ( 09 tháng) với tổng số tiền 12.058.000đ , trong đó tiền gốc 8.336.770 đ và lãi 3.721.230đ còn lại 15 kỳ (15 tháng) bà S không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận là vi phạm hợp đồng. Xét mục đích vay của bà S để tiêu dùng cá nhân bằng hình thức tín chấp, không thế chấp tài sản bảo đảm, khi ký kết hợp đồng chỉ cá nhân bà S ký, không có chồng bà S tham gia giao dịch, mặt khác Ngân hàng xác định chỉ yêu cầu cá nhân bà S thanh toán nợ và bản thân bà S cũng xác nhận việc bà vay nợ không liên quan đến chồng của bà nên Hội đồng xét xử có căn cứ để xác định đây là nợ cá nhân của S.

Bà S không nộp được cho Tòa án bất kỳ tài liệu chứng cứ gì, nhưng bà S khai đã đóng gốc và lãi được 09 kỳ với tổng số tiền 12.058.000đ, trong đó tiền gốc 8.336.770 đ và lãi 3.721.230đ là hoàn toàn phù hợp với lời khai của nguyên đơn. Như vậy, việc Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu bà S có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng A số tiền 20.148.000đ, trong đó tiền gốc là 12.663.230đ, tiền lãi là 7.484.770đ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về tiền lãi: Xét đơn đề nghị mở tài khoản, phát hành thẻ ghi nợ, vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số hiệu hồ sơ N 334511 có thỏa thuận về lãi suất. Tại thời điểm vay, các bên thỏa thuận lãi suất là 3.75%/tháng tức 45/% một năm là vượt quá lãi suất giới hạn theo khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự tức vượt quá 150% của khoản tiền vay.Tuy nhiên do thỏa thuận giữa bà S và ngân hàng là thỏa thuận về Hợp đồng tín dụng nên phải chịu sự điều chỉnh của Luật tổ chức tín dụng, theo khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng mà không theo quy định tại khoản 1 Điều 476 Bộ luật dân sự. Tại phiên tòa hôm nay phía ngân hàng chỉ yêu cầu bà S thanh toán tiền nợ gốc 12.663.230đ, tiền lãi là 7.484.770đ.Tính theo Hợp đồng tín dụng và lời khai của ngân hàng thì hạn thanh toán cuối cùng của Hợp đồng là ngày 13/12/2016, tức đã quá hạn hợp đồng gần 09 tháng.Tuy nhiên Ngân hàng chỉ yêu cầu tiền lãi đến ngày 13/12/2016. Xét yêu cầu về tiền lãi này của ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về phần lãi chậm trả: tại phiên tòa, ngân hàng đồng ý cho bị đơn tiếp tục trả lãi trên số tiền nợ gốc còn lại từ ngày bản án có hiệu lực (khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án) cho đến khi trả hết nợ theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí: Bà S phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền nợ phải thanh toán theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Khoản 3 điều 26 và điểm a khoản 1 điều 35, Điều 36, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điều 471, 474, 476 Bộ luật dân sự 2005.

- Khoản 2 Điều 3, Khoản 2 Điều 91 Luật tổ chức tín dụng.

- Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.

- Điều 5, điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án; Khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A đối với bà Trần Thị Ngọc S

Buộc bà Trần Thị Ngọc S phải thanh toán cho của Ngân hàng A tổng số nợ còn lại tính đến ngày 07/9/2017 là 20.148.000đ (hai mươi triệu một trăm bốn mươi tám nghìn đồng), trong đó tiền gốc là 12.663.230đ (mười hai triệu sáu trăm sáu mươi ba nghìn hai trăm ba mươi đồng), tiền lãi là 7.484.770đ ( Bảy triệu bốn trăm tám mươi bốn nghìn bảy trăm bảy mươi đồng)

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, người phải thi hành án phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền chưa thi hành án và thời gian chưa thi hành án tại thời điểm thanh toán.

2. Về án phí: Bà Trần Thị Ngọc S phải nộp 1.007.400( Một triệu không trăm lẻ bảy nghìn bốn trăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng A số tiền 604.000đ (Sáu trăm lẻ bốn nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0003302 ngày 02/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bà Rịa, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7,và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ