- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hoàng Đ - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 20 5;
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 6/2020/HS-ST Ngày: 04-6-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Thạch;
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Cương;
2. Bà Lê Thị Mỹ.
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hiền – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trịnh Thế Minh- Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa sơ thẩm, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm
, tại tỉnh S c Trăng; hộ khẩu thư ng trú: ấp K, xã L, huyện T, tỉnh S c Trăng; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/ 2; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; cha tên Nguyễn Văn Đ, sinh năm 60 và mẹ tên Lâm Ngọc H, sinh năm 72; vợ tên Sơn Thị Diễm H, sinh năm 5 và c 0 ngư i con sinh năm 20 6; tiền sự: không; tiền án: ngày 2 /4/20 7, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương xử phạt 02 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày / /20 8 chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành xong tiền án phí. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/20 cho đến nay; c mặt.
Người bào chữa chỉ định cho bị cáo Nguyễn Hoàng Đ: Ông Hoàng Thái N là Luật sư của Văn phòng Luật sư P, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương; có mặt.
2. Lê Tạ Lý T,sinh năm 4, tại tỉnh Ninh Thuận; hộ khẩu thư ng trú: số 2/3, khu phố Tây B, phư ng Đ, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 02/ 2; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; cha tên Tạ Lý T, sinh năm 58 và mẹ tên Lê Thị Hồng T, sinh năm 58; vợ tên Phạm Ngọc D, sinh năm 2000 và c 0 ngư i con sinh năm 20 ; tiền sự: không;
Tiền án: ngày 05/4/20 8 bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương xử phạt 0 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 05/ /20 chấp hành xong hình phạt tù, chưa chấp hành xong tiền án phí.
Nhân thân: ngày 03/10/2006, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 6 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, ngày 28/ /2006 chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự và tiền án phí, ngày 0 / /200 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 06/ /20 4, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương xử phạt 0 năm 05 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, ngày 2 /4/20 4 chấp hành xong tiền án phí, ngày 0/0 /20 5 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 02/6/20 6, bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với th i hạn 0 năm 04 tháng, ngày /7/20 7 chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/20 cho đến nay; c mặt.
3. Nguyễn Chí L, sinh năm
0, tại tỉnh An Giang; hộ khẩu thư ng trú: Ấp V, xã C, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 0 / 2; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; cha tên Nguyễn Hồng Q, sinh năm 72 và mẹ tên Tạ Thị D, sinh năm 70; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/20 cho đến nay; c mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Văn Đ , sinh năm 64. Nơi cư trú: A740 Tổ 17, khu phố , phư ng L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; c đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người làm chứng:
1. Ông Lê Võ Quốc V, sinh năm 4. Nơi cư trú: số 519/1A, khu phố T, phư ng T, thị xã D, tỉnh Bình Dương; c đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
2. Ông Lê Khanh H, sinh năm 80. Nơi cư trú: số 19/13C, khu phố Thống Nhất 2, phư ng D, thị xã D, tỉnh Bình Dương; c đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu c trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được t m tắt như sau:
Khoảng 5 gi ngày 20/8/20 , Công an phư ng D phối hợp với Công an thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương tiến hành kiểm tra hành chính Nhà trọ số / C, Khu phố T2, phư ng D, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương; khi kiểm tra đến phòng số 04 do Nguyễn Chí L thuê, lực lượng Công an phát hiện 0 đối tượng c dấu hiệu đang sử dụng trái phép chất ma túy, gồm: Nguyễn Chí L, sinh năm 0, Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm
và Lê Tạ Lý T, sinh năm 4 và thu giữ 0 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Cùng ngày 20/8/20 , Cơ quan điều tra đã ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Chí L là phòng số 4 và thu giữ được một số tang vật của Nguyễn Hoàng Đ và Lê Tạ Lý T như sau:
+ Thu giữ của Lê Tạ Lý T gồm: 0 (một) g i nylon hàn kín kích thước (04 x 04) cm chứa tinh thể màu trắng, 0 (một) g i nylon hàn kín kích thước (0,5 x 0 ) cm chứa tinh thể màu trắng, 0 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, 0 (một) Chứng minh nhân dân tên Lê Tạ Lý T, 0 (một) thẻ tên Nguyễn Hoài T , 0 (một) Chứng minh nhân dân photo tên Phạm Ngọc Dung, 0 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, 0 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen;
+ Thu giữ của Nguyễn Hoàng Đ gồm: 0 (một) g i nylon hàn kín kích thước (05 x 04) cm chứa tinh thể màu trắng, 0 (một) g i nylon hàn kín kích thước (06 x 06) cm chứa tinh thể màu trắng, 0 (một) g i nylon hàn kín kích thước (0 x 06) cm chứa tinh thể màu trắng, số tiền 2. 00.000 đồng, 0 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen, 0 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bạc, 0 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu trắng đen, biển số 60F -714.33.
Cơ quan điều tra tiếp tục ra lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Lê Tạ Lý T là phòng số và thu giữ 0 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá.
Cùng ngày 20/8/20 , Cơ quan điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) D đã ra lệnh giữ, bắt ngư i trong trư ng hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Chí L, Nguyễn Hoàng Đ và Lê Tạ Lý T để điều tra, xử lý về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Kết luận giám định số 642/MT-PC0 ngày 2 /8/20 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là ma túy, c khối lượng: ,6077 gam (M -1); 0,1068 gam (M1-2); 4,9334 gam (M2-1); 22,2993 gam (M2-2); 45,3862 gam (M2-3), loại Methamphetamine. Tổng khối lượng/trọng lượng ma túy thu giữ là 82, 4 gam, loại Methamphetamine (trong đ , của Nguyễn Hoàng Đ là 72,6189 gam; của Lê Tạ Lý T là 9,7145gam).
Quá trình điều tra đã xác định được như sau:
Nguyễn Chí L, Lê Tạ Lý T là bạn bè quen biết ngoài xã hội, T thư ng xuyên bán ma túy cho L và nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy cùng với L tại phòng số 4 thuộc nhà trọ số / C, Khu phố Thống Nhất 2, phư ng D, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương.
Vào khoảng 2 gi ngày 20/8/20 , L gọi điện thoại hỏi T còn ma túy thì mang qua phòng trọ của L để cả hai cùng sử dụng, ngay sau đ , T mang theo ma túy đá cùng với một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đến phòng trọ của L2; tại đây, L trả cho T số tiền 200.000 đồng tiền mua ma túy của những ngày trước và đưa thêm số tiền 80.000 đồng tiền mua ma túy ngày 20/8/20 , rồi cả hai cùng tiếp tục sử dụng ma túy. Trong khi cả hai đang sử dụng ma túy tại phòng trọ số 4 của L thì Lê Võ Quốc V, sinh năm 4 gọi điện thoại cho T hỏi mua 00.000 đồng ma túy đá thì T đồng ý bán; khoảng 5 phút sau, V đến phòng trọ số 4 gặp T và L để mua ma túy nhưng do lúc này T không còn đủ số lượng ma túy để bán nên nói V ngồi ch để T gọi ngư i mang ma túy đến. Lúc này, T gọi điện thoại cho Nguyễn Hoàng Đ nói Đ mang ma túy đến phòng trọ của L để bán cho T. Đ điều khiển xe mô tô biển số 60F – 7 4. mang theo 04 g i ma túy (c trọng lượng và kích thước khác nhau) đi đến phòng trọ của L, khi gần đến nơi do Đ không biết đư ng đi vào khu nhà trọ của L nên T nói L đi ra đầu hẻm để dẫn Đ vào. Khi Đ vào đến phòng trọ của L thì T n i với Đ bán cho 4.000.000 đồng ma túy đá, Đ lấy 0 g i ma túy đưa cho T và nhận số tiền 4.000.000 đồng (L và V chứng kiến việc mua bán ma túy giữa Đ và T). Sau khi có ma túy, T lấy ra một ít ma túy bán cho V số tiền 00.000 đồng, số còn lại T bỏ vào hai g i nylon (một g i lớn, một g i nhỏ) hàn kín lại, rồi bỏ vào trong bao thuốc lá nhãn hiệu Jet để dưới chân. Một lúc sau, V đi ra khỏi phòng trọ số 4, còn Đ, T và L tiếp tục sử dụng chung ma túy trong phòng cho đến khi bị cơ quan Công an kiểm tra phát hiện.
Lê Võ Quốc V là ngư i sử dụng trái phép chất ma túy đã c hành vi mua ma túy của Lê Tạ Lý T về để sử dụng và đã sử dụng hết, Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được ma túy nên không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 25/ /20 , Công an thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 5 /QĐ-XPHC đối với Lê Võ Quốc V về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, phạt tiền 750.000 (bảy trăm năm mươi ngàn) đồng.
Tại Cáo trạng số 46/CT-VKS.P2 ngày 11/5/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản Điều 25 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Tạ Lý T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, c và i khoản 2 Điều 25 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Chí L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 25 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hoàng Đ, Lê Tạ Lý T, Nguyễn Chí L khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mà đại diện Viện Kiểm sát đã nêu.
Tại phiên tòa, phần luận tội, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản Điều 25 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Tạ Lý T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, c và điểm i khoản 2 Điều 25 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Chí L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 25 của Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: các bị cáo Đ và T phạm tội thuộc trư ng hợp tái phạm nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo Đ, T, L đều c thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản Điều 5 của Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đ mức hình phạt từ 7 năm tù đến năm tù; bị cáo T từ 0 năm tù đến năm tù, bị cáo L từ 07 năm tù đến 0 năm tù. Về xử lý vật chứng: đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Ngư i bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Đ trình bày tranh luận: thống nhất với quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, điều luật, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo Đ. Đồng th i, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ cha của bị cáo Đ là ngư i c công với cách mạng, được Nhà nước tặng Bằng khen quy định tại khoản 2 Điều 5 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo Đ và xử phạt bị cáo Đ mức hình phạt 7 năm tù.
Các bị cáo Nguyễn Hoàng Đ, Lê Tạ Lý T, Nguyễn Chí L không tham gia tranh luận.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đối đáp lại: đối với tình tiết bị cáo Đ c cha là ngư i c công với cách mạng được Nhà nước tặng Bằng khen, nếu c căn cứ thì đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 5 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo Đ.
Các bị cáo Nguyễn Hoàng Đ, Lê Tạ Lý T, Nguyễn Chí L n i l i sau cùng: các bị cáo mong Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo mức án thấp nhất để các bị cáo sớm được trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên; quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Dương, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, ngư i bào chữa chỉ định cho bị cáo Đ, các bị cáo không c ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đ , các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2 Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hoàng Đ, Lê Tạ Lý T, Nguyễn Chí L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với các bị cáo. L i nhận tội của các bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác tại hồ sơ. Do đ , Hội đồng xét xử c đủ cơ sở kết luận: ngày 20/8/20 , Công an phư ng D phối hợp với Công an thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương tiến hành kiểm tra hành chính phòng trọ số 04 thuộc nhà trọ số / C, Khu phố Thống Nhất 2, phư ng D, thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương do bị cáo Nguyễn Chí L thuê thì phát hiện bắt quả tang:
Bị cáo Nguyễn Hoàng Đ c hành vi cất giấu 82,3334 gam ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích bán lại cho những ngư i nghiện ma túy và trong ngày 20/8/20 , bị cáo Đ đã bán cho bị cáo Lê Tạ Lý T 9,7145 gam ma túy loại Methamphetamine; hành vi của bị cáo Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “Methamphetamine có khối lượng 30 gam đến dưới 00 gam” quy định tại điểm b khoản Điều 25 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lê Tạ Lý T c hành vi mua ,7 45 gam ma túy loại Methamphetamine của bị cáo Nguyễn Hoàng Đ để bán lại cho những ngư i nghiện ma túy (cụ thể bán cho Nguyễn Chí L và Lê Võ Quốc V); hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên”, “Đối với 02 ngư i trở lên” và “… Methamphetamine c khối lượng 05 gam đến 0 gam” quy định tại các điểm b, c và i khoản 2 Điều 25 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Chí L c hành vi cho bị cáo T sử dụng phòng trọ của mình (phòng số 4) làm địa điểm để giao dịch bán ma túy cho Lê Võ Quốc V và L là ngư i dẫn bị cáo Đ vào phòng trọ của mình để Đ bán ma túy cho bị cáo T; hành vi của bị cáo L là đồng phạm giúp sức cho các bị cáo Đ và T trong việc mua bán trái phép ma túy nên đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 ngư i trở lên” quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 25 của Bộ luật Hình sự.
Như vậy, cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương truy tố tội danh, điều luật đối với các bị cáo là c căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của các bị cáo thuộc trư ng hợp phạm tội nghiêm trọng, rất ghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng, gây nguy hiểm lớn cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Các bị cáo biết ma túy (Methamphetamine) là chất gây nghiện độc hại, là mầm mống phát sinh các bệnh xã hội, bệnh hiểm nghèo và các loại tội phạm khác và cũng là nguyên nhân của những bất ổn, mất trật tự an toàn xã hội nhưng vì để c ma túy sử dụng và để c tiền tiêu xài cá nhân mà các bị cáo đã c hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, nếu bị phát hiện sẽ bị trừng trị một cách nghiêm khắc nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm và mua bán ma túy với khối lượng lớn, điều đ cho thấy các bị cáo bất chấp hậu quả và xem thư ng pháp luật.
Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Bình Dương, tình hình tội phạm ma túy ngày càng gia tăng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải xử phạt các bị cáo mức án thật nghiêm nhằm c tác dụng giáo dục, trừng trị đối với các bị cáo, g p phần đấu tranh phòng ngừa cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức độ hành vi, hậu quả của tội phạm mà các bị cáo đã gây ra để xét xử các bị cáo mức án phù hợp.
4 Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo Nguyễn Hoàng Đ và Lê Tạ Lý T phạm tội thuộc trư ng hợp tái phạm (đã bị kết án, chưa được x a án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý) nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Chí L phạm tội không c tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
5 Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, các bị cáo c thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản Điều 5 của Bộ luật Hình sự năm 20 5 được sửa đổi, bổ sung năm 20 7 cho các bị cáo.
Bị cáo Đ còn có thêm tình tiết giảm nhẹ tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: c cha tên Nguyễn Văn Đ i được Nhà nước tặng Bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong chiến đấu được quy định tại khoản 2 Điều 5 của Bộ luật Hình sự.
6 Về nhân thân: đối với bị cáo Lê Tạ Lý T: ngày 0 / 0/2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 6 tháng tù về tội “Cướp tài sản”, ngày 28/ /2006 chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự và tiền án phí, ngày 0 / /200 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 06/ /20 4, bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 0 năm 05 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”, ngày 2 /4/20 4 chấp hành xong tiền án phí, ngày 0/0 /20 5 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 02/6/20 6, bị Tòa án nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với th i hạn 0 năm 04 tháng, ngày /7/20 7 chấp hành xong.
7 Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp.
8 Ý kiến của ngư i bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoàng Đ về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo Đ là c căn cứ nên được chấp nhận.
Về biện pháp tư pháp:
0 (một) g i nylon hàn kín kích thước (04 x 04) cm chứa tinh thể màu trắng, 0 (một) g i nylon hàn kín kích thước (0,5 x 0 ) cm chứa tinh thể màu trắng, 0 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 0 (một) gói nylon hàn kín kích thước (05 x 04) cm chứa tinh thể màu trắng, 0 (một) g i nylon hàn kín kích thước (06 x 06) cm chứa tinh thể màu trắng, 0 (một) g i nylon hàn kín kích thước (0 x 06) cm chứa tinh thể màu trắng: là vật chứng trong vụ án và là chất cấm nên cần tịch thu tiêu hủy.
0 (một) Chứng minh nhân dân tên Lê Tạ Lý T là giấy t tùy thân của bị cáo T, không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo T.
0 (một) Chứng minh nhân dân photo tên Phạm Ngọc Dung không c giá trị pháp lý nên tịch thu tiêu hủy.
0 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, 0 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen là phương tiện bị cáo T sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
0 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen, 0 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bạc là phương tiện bị cáo Đ sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
Số tiền 2. 00.000 đồng là tiền của cá nhân bị cáo Đ, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo Đ.
0 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu trắng đen, biển số 60F -714.33. Đối với biển số xe 60F -7 4. là của ông Hoàng Văn Đ , ông Đ làm rơi biển số xe này và đã làm lại biển số xe nên không c yêu cầu nhận lại; do đ cần tịch thu tiêu hủy biển số xe 60F -7 4. . Đối với xe mô tô nhãn hiệu Suzuki màu trắng đen là xe bị cáo Đ mua của một ngư i không rõ nhân thân, lai lịch, mua không c giấy t và xe c số khung trên cổ xe là số nguyên thủy, không xác định được chủ sở hữu, bị cáo Đ sử dụng xe này làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
0 (một) thẻ thông tin về tài khoản tên Nguyễn Hoài T là do bị cáo Đ nhặt được tại phòng giao dịch ở thị xã (nay là thành phố) D, tỉnh Bình Dương, không biết được chủ sở hữu nên tịch thu tiêu hủy.
0 Án phí hình sự sơ thẩm: các bị cáo Nguyễn Hoàng Đ, Lê Tạ Lý T và Nguyễn Chí L phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 2 8, 2 , 26, 27, 2 ,
,
của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 20 5;
. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hoàng Đ, Lê Tạ Lý T, Nguyễn Chí L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
. . Áp dụng điểm b khoản Điều 25 ; điểm s khoản và khoản 2 Điều 5 ; điểm h khoản Điều 52 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Hoàng Đ 7 (mư i bảy) năm tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/8/2019.
.2. Áp dụng các điểm b, c và i khoản 2 Điều 25 ; điểm s khoản Điều 5 ; điểm h khoản Điều 52 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lê Tạ Lý T 09 (chín) năm tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/8/2019.
1.3. Áp dụng các điểm b, c khoản 2 Điều 25 ; điểm s khoản Điều 5 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Chí L 07 (bảy) năm tù. Th i hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/8/2019
2. Về biện pháp tư pháp:
Áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 47 và 48 của Bộ luật Hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy:
02 (hai) phong bì niêm phong ghi vụ số 64 /PC0 , bên ngài c chữ ký của Lê Tạ Lý T, Nguyễn Hoàng Đ, Nguyễn Chí L; chữ ký của cán bộ giao mẫu Nguyễn Công Danh; chữ ký của cán bộ giám định Nhan Thái Hiền, được đ ng dấu mộc của Công an phư ng D, thị xã D, tỉnh Bình Dương và đ ng dấu mộc niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương (kèm theo Kết luận giám định số 64 /MT-PC0 ngày 2 /8/20 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương);
02 (hai) bộ sử dụng ma túy đá tự chế;
0 (một) Chứng minh nhân dân photo tên Phạm Ngọc D;
0 (một) thẻ thông tin về tài khoản tên Nguyễn Hoài T .
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
0 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xanh đen, không kiểm tra được số Imel (không kiểm tra được tình trạng bên trong);
01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bạc, số Imel 000 48 75 2 (không kiểm tra được tình trạng máy m c bên trong);
01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia 27 0 màu đen, số Imel 5 6/04/0688 4/0 (không kiểm tra được tình trạng máy m c bên trong);
0 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu đen, không kiểm tra được số Imel (không kiểm tra được tình trạng máy m c bên trong);
01 (một) xe mô tô hai bánh (kiểu dáng Suzuki Sport) màu trắng đen, biển số 60F -7 4. , số khung dưới xe: MHDBF BLJ 58 7 là số đ ng mới, số khung trên cổ xe: BF 2B-TH 0 76 là số nguyên thủy, số máy: F 25-ID 5 0 là số đ ng mới, kèm theo Kết luận giám định số 688/SKSM-PC09 ngày 27/ 2/20 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương (không c kính chiếu hậu và không kiểm tra được tình trạng máy m c bên trong).
- Trả lại cho bị cáo Lê Tạ Lý T 0 (một) Chứng minh nhân dân tên Lê Tạ Lý T.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/02/2020).
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hoàng Đ 2. 00.000 (hai triệu chín trăm ngàn) đồng (theo Ủy nhiệm chi chuyển khoản, chuyển tiền điện tử lập ngày 04/02/2020).
. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Áp dụng Điều 6 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 26/20 6/UBTVQH 4 ngày 0/ 2/20 6 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Hoàng Đ phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo Lê Tạ Lý T phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo Nguyễn Chí L phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong th i hạn 5 ngày kể từ ngày tuyên án./. HỘI THẨM NHÂN DÂN
THẨM PHÁN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA
Nguyễn Văn Cương
Lê Thị Mỹ
Bùi Ngọc Thạch
| Nơi nhận:1 - TAND tối cao tại Hà Nội; 1 - VKSND cấp cao tại Tp HCM; 1 - VKSND tỉnh Bình Dương; 1 1 - Trại Tạm giam Công an tỉnh BD; - Phòng PC04 Công an tỉnh BD; 1 - Phòng PV06 Công an tỉnh BD; 1 - Cục THADS tỉnh Bình Dương; 1 - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; 1 3 - Các bị cáo; - Ngư i bào chữa cho các bị cáo; 1 - Tổ hành chính tư pháp; 2 - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự. 2 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Bùi Ngọc Thạch |