- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Thành V, tuyên cho ông Phạm Thành V được ly hôn với bà Phan Diễm H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 2 Luật Thi hành án dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 597/2021/HNGĐ-ST Ngày: 18-6-2021 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Đỗ Thị Xuân Mai
2. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thành Công, Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Yến Hòa, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1308/2020/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 12 năm 2020 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 331/2021/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2021 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Ông Phạm Thành V, sinh năm 1991 ( Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: 2/52B, tổ 11 (hiện nay là tổ 6), Khu phố 5, phường C, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Bà Phan Diễm H, sinh năm 1992( Vắng mặt);
Địa chỉ: 2/52B, tổ 11 (hiện nay là tổ 6), Khu phố 5, phường C, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10 tháng 12 năm 2020, bản tự khai và tại các biên bản của Tòa án, nguyên đơn ông Phạm Thành V trình bày: Ông và bà Hương tự nguyện tìm hiểu quen nhau, chung sống với nhau năm 2010, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn vào năm 2010 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 167, quyển số 01/2010, ngày 10/12/2010 tại Ủy ban nhân dân phường C, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Hai bên chung sống hạnh phúc trong 3 năm đầu. Kể từ năm 2013, hai bên bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng ý kiến dẫn đến tranh cãi, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Hai bên có hòa giải với nhau nhưng không có kết quả. Hai bên không sống chung với nhau từ năm 2014 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên ông V yêu cầu ly hôn với bà Hương.
Về con chung: ông V xác định ông và bà Hương có 01(một) con chung là Phạm Hải Đ, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2011. Khi ly hôn, ông V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Đăng, tự nguyện không yêu cầu bà Hương phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Ông V xác định không có, không yêu cầu toà giải quyết.
Bị đơn bà Phan Diễm H đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Ông Phạm Thành V có đơn để nghị tòa xét xử vụ án vắng mặt ông. Bà Phan Diễm H đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, tòa xét xử vụ án vắng mặt ông V, bà Hương.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Ông Phạm Thành V và bà Phan Diễm H chung sống với nhau từ năm 2010, đã đăng ký kết hôn vào năm 2010, vì vậy căn cứ vào các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa cần xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị đơn bà Phan Diễm H hiện đang cư trú tại Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về các yêu cầu của đương sự:
Về quan hệ hôn nhân: Ông V và bà Hương chung sống với nhau năm 2010, đăng ký kết hôn vào năm 2010 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 167, quyển số 01/2010, ngày 10/12/2010 tại Ủy ban nhân dân phường C, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông V xác định: Hai bên chung sống hạnh phúc trong 3 năm đầu. Kể từ năm 2013, hai bên bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng ý kiến dẫn đến tranh cãi, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Hai bên có hòa giải với nhau nhưng không có kết quả. Hai bên không sống chung với nhau từ năm 2014 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên ông V yêu cầu ly hôn với bà Hương.
Căn cứ trả lời Phiếu yêu cầu xác minh ngày 12 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân Quận 12 tại Công an phường C, Quận 12 có ghi nhận nội dung: “ Bà Phan Diễm H, sinh năm 1992, có hộ khẩu thường trú tại 2/52B, tổ 6, khu phố 5, phường C, Quận 12 và cư trú tại địa chỉ trên ”. Căn cứ trả lời Phiếu yêu cầu xác minh ngày 15 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân Quận 12 tại Hội liên hiệp phụ nữ phường C, Quận 12, có ghi nhận nội dung: “ …1.Qua xác minh, ông Phạm Thành V và bà Phan Diễm H là vợ chồng. Hiện nay không còn sống tại địa chỉ 2/52B, tổ 11, Khu phố 5, phường C, Quận 12, Thành phố Hồ Hồ Chí Minh, đang tạm trú tại đường Song Hành, Khu phố 2, phường C, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh( Không xác minh được số nhà cụ thể)…2.Do mâu thuẫn vợ chồng nên ông V và bà Hương quyết định ly hôn. Hiện nay ông Phạm Thành V đang sống chung với con tại đường Song Hành, Khu phố 2, phường C, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Những vấn đề khác Hội liên hiệp phụ nữ phường C không có thẩm quyền xác minh”. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các V bản tố tụng cho bà Hương, nhưng bà Hương không đến tòa để có thể trình bày ý kiến hoặc có thể hòa giải với ông V. Tình tiết này kết hợp với các tình tiết đã xác minh như đã nêu trên chứng tỏ bà Hương không quan tâm gì đến quan hệ hôn nhân và hạnh phúc gia đình. Hai bên không có hành động gì để liên lạc, gặp gỡ để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Có thể thấy, quan hệ tình cảm vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Thành V, tuyên cho ông V được ly hôn với bà Phan Diễm H.
Về con chung: ông V xác định ông và bà Hương có 01(một) con chung là Phạm Hải Đ, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2011. Khi ly hôn, ông V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Đăng, tự nguyện không yêu cầu bà Hương phải cấp dưỡng nuôi con. Tòa xét thấy: trẻ Đăng đang ở với cha và cũng có nguyện vọng để cha trực tiếp nuôi dưỡng, bà Hương đã không có bất cứ hành động gì về việc quan tâm chăm sóc con. Như vậy, việc giao con cho ông V nuôi dưỡng sẽ đảm bảo việc phát triển mọi mặt về vật chất lẫn tinh thần cho trẻ Đăng. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của ông V, tuyên giao ông V được trực tiếp nuôi dưỡng con chung giữa ông và bà Hương là trẻ Phạm Hải Đ, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2011. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho bà Phan Diễm H cho đến khi ông V có yêu cầu.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Ông V xác định hai bên không có tài sản chung và nghĩa vụ chung, nên ông không yêu cầu toà giải quyết và bà Hương cũng không có đơn yêu cầu tòa giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung, nên không xét.
Ông Phạm Thành V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn.
Bà Phan Diễm H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 266, 267 và 275 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 8, 9, 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Thành V, tuyên cho ông Phạm Thành V được ly hôn với bà Phan Diễm H.
2. Về con chung: Giao ông Phạm Thành V được trực tiếp nuôi dưỡng con chung giữa ông V và bà Hương là trẻ Phạm Hải Đ, sinh ngày 17 tháng 4 năm 2011. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho bà Phan Diễm H cho đến khi ông Phạm Thành V có yêu cầu.
Vì lợi ích con chung, các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con; không bên nào có quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Khi cần thiết, cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Ông V xác định hai bên không có tài sản chung và nghĩa vụ chung, nên ông không yêu cầu toà giải quyết và bà Hương cũng không có đơn yêu cầu tòa giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung, nên không xét.
4. Án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông Phạm Thành V phải nộp, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm ông V đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2019/0105781 ngày 23 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12. Bà Phan Diễm H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 167, quyển số 01/2010, ngày 10/12/2010 do Ủy ban nhân dân phường C, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Phạm Thành V và bà Phan Diễm H không còn hiệu lực.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kề từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q.12; - Chi cục THADS Q.12; - UBND P.C, Quận 12, TP.Hồ Chí Minh; - Các đương sự; - Lưu. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Sơn |