vanban.org

Bản án 596/2024/DS-PT — Tranh chấp đất đai

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 27/09/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 27/09/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

hông chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông Nguy n Văn Đ.

Giữ nguy n bản án dân sự sơ thẩm. hông chấp nhận y u cầu kh i kiện của ông Nguy n Văn Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai — án dân sự — "Tranh chấp dân sự hợp đồng cố đất"
  • Tòa quyết gì? hông chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông Nguy n Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố t ng dân sự; Điều 157 Bộ luật tố t ng dân sự; Điều 308 Bộ luật tố t ng dân sự
T A ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 596/2024/DS-PT
Ngày: 27-9-2024
V/v tranh chấp dân sự hợp đồng
cố đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ng Nguy n Ng c V ng.

Các Thẩm phán:

ng Sỹ Danh Đ t;

ng Ngô Tấn Lợi.

- Thư ký phiên tòa: ng Nguy n Bảo uốc - Thư ký Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp.

- Đ i diện Viện i m sát nhân dân t nh Đồng Tháp: Bà Nguy n Th Được - i m sát vi n tham gia phi n tòa.

Trong các ngày 06/8, 06/9, 27/9/2024, t i tr s Tòa án nhân dân t nh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai v án th lý số 328/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp dân sự hợp đồng cố đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò b kháng cáo.

Theo quyết đ nh đưa v án ra xét xử phúc thẩm số 472/2024/ Đ-PT ngày 22 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguy n đơn: ng Nguy n Văn Đ, sinh năm 1951; Đ a ch : Số E, ấp B, xã B, huyện L, t nh Đồng Tháp.

Đ i diện theo ủy quyền của ông Đ: Ông Bùi Văn P, sinh năm 1961; Đ a ch : Số A, ấp B, xã B, huyện L, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)

2. B đơn: ng Hồ Thanh S, sinh năm 1970; Đ a ch : Số D, ấp B, xã B, huyện L, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)

3. Người có quyền lợi, nghĩa v li n quan:

3.1. Ông Đỗ Hữu L, sinh năm 1962; Đ a ch : Số E, ấp B, xã B, huyện L, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)

3.2. Bà Ph m Thu T, sinh năm 1977; Đ a ch : Số D, ấp B, xã B, huyện L, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hồ Thanh S và bà Nguy n Thu T1: Luật sư L Th im - Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư t nh Đ; Đ a ch : uốc lộ H, khóm B, th trấn L, huyện L, t nh Đồng Tháp. (Có mặt)

4. Người kháng cáo: ng Nguy n Văn Đ - Là nguy n đơn

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện; biên bản tiếp cận, công khai chứng cứ; biên bản hòa giải và tại phiên tòa ông Nguyễn Văn Đ là nguyên đơn trình bày: Vào năm 1999 - 2000 ông Đ có thỏa thuận cố quyền sử d ng đất cho ông Hồ Thanh S, có làm văn bản viết tay, theo văn bản thì b n ông Đ giao cho ông S sử d ng diện tích 3.579m2 đất 2 lúa, thuộc thửa số 548, tờ số 4, t a l c t i xã B, huyện L, t nh Đồng Tháp do ông Đ đứng t n quyền sử d ng đất cho ông S canh tác, phía ông S giao cho ông Đ 01 (một) cây vàng 24k, vàng th trường, giao kết khi nào ông Đ trả 01 cây vàng cho ông S, thì ông S giao trả đất cầm cố này l i cho ông Đ.

Năm 2017 kéo dài đến nay, thì Ủy ban xã B mời hòa giải nhiều lần, nói là ông Đỗ Hữu L có đơn tranh chấp, nhưng các lần mời không có hòa giải được do không có đủ mặt các b n; đất cầm cố thì ông Đ phát hiện do ông L canh tác, ông L nói là mua l i của ông S, còn giấy tờ đất thì ông Đ không biết bằng cách nào mà ông S l i được ghi nhận là đã nhận chuy n nhượng thửa đất của ông Đ vào năm 2000. Từ trước nay ông Đ không ký tên làm thủ t c chuy n nhượng thửa đất này cho ông S.

Ngày 07/9/2023, Ủy ban nhân dân xã B có tiến hành lập bi n bản hòa giải theo đơn y u cầu của ông Đ, t i cuộc hòa giải ông S nói là ông Đ thiếu nợ ngân hàng, ông S trả nợ và ông Đ ký t n chuy n nhượng đất cho ông S và ông S chuy n nhượng đất l i cho ông L, nhưng ông Đ khẳng đ nh năm 1996 ông vay Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L ông vay Ngân hàng rồi đáo h n vay li n t c, ông Đ tự trả nhiều lần, đến tháng 7/2023 ông Đ đã trả nợ cho Ngân hàng xong và đã lấy giấy đất về nhà cất giữ, không li n quan gì đến ông S. Cuối cùng Ủy ban nhân dân xã 1 không thành.

Nay ông Đ y u cầu Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò giải quyết: Chấm dứt hợp đồng cầm cố giữa ông Đ với ông S, ông Đ trả l i ông S 01 cây vàng 24k; buộc ông S và ông L giao trả toàn bộ diện tích 3.579m2, thuộc thửa số 548, tờ số 4 cho ông Đ.

Việc ông Đ cố đất cho ông S có làm văn bản viết tay ký với nhau, nhưng giấy cố này đã b thất l c khi nộp ra Tổ hòa giải ấp, nhưng việc cố đất này ông S có thừa nhận, có ghi trong bi n bản hòa giải của UBND xã B.

Đất cố cho ông S, ông Đ đã được cấp giấy Chứng nhận SDĐ ngày 20/9/1993 (thời đi m cố năm 1999-2000 là đã có giấy đất); Giấy CN SDĐ đất lúc này là cấp chung 3 thửa và đang thế chấp vay tiền t i Ngân hàng N, chi nhánh huyện L.

Thời gian thế chấp vay tiền ngân hàng là từ năm 1996, ông Đ vay rồi đáo h n vay tiếp li n t c (giấy đất do ngân hàng giữ li n t c, giấy cấp chung 3 thửa), khi đổi giấy mới thì ngân hàng và đ a chính xã làm thủ t c cho ông Đ ký t n nộp, ông Đ nhận giấy hẹn (lúc này vẫn còn nợ vay ngân hàng), đến ngày hẹn ông Đ đi lấy giấy CN. SDĐ mới thì phát hiện đất ông Đ b thiếu mất 1 thửa, ch cấp mới cho ông Đ 2 giấy của 2 thửa, còn 1 thửa cầm cố cho ông S thì ngân hàng nói đ a chinh cắt chuy n cho ông S rồi, n n ông Đ còn 2 thửa 2 giấy giao cho Ngân hàng đ vay tiền tiếp theo từ năm 2011, cho đến khoản tháng 7/2023 mới trả xong tiền vay, lấy giấy đất về đang cất giữ, còn giấy đất cũ chung 3 thửa thì cơ quan nào giữ ông Đ không biết. hi nhận giấy đất mới, thấy mất 1 thửa cầm cố cho ông S thì ông Đ đã đi khiếu n i, nhưng xã mời không đủ mặt ông S, ông L n n không hòa giải được kéo dài đến nay.

Về việc cung cấp chứng cứ: Giấy cầm cố đã thất l c; hồ sơ vay ngân hàng thì ngân hàng giữ, sổ vay b n ông Đ giữ đã b mối ăn, mưa ướt rách, hư hỏng hết không cung cấp được cho Tòa án.

- Tại văn bản ghi ý kiến; biên bản tiếp cận, công khai chứng cứ; biên bản hòa giải và tại phiên tòa ông Hồ Thanh S là bị đơn trình bày: Vào năm 1999, ông Nguy n Văn Đ có thỏa thuận cầm cố quyền sử d ng đất cho ông S, có làm văn bản viết tay (hiện do ông Đ lưu giữ). Theo văn bản thì ông Đ giao cho ông S sử d ng, canh tác đất diện tích 3.975m2 đất lúa, thuộc thửa số 548, tờ số 4, t a l c t i xã B, huyện L, t nh Đồng Tháp do ông Đ đứng t n quyền sử d ng đất, phía ông S giao cho ông Đ 03 (ba) cây vàng 24k, thỏa thuận trong thời h n 03 năm, nếu ông Đ trả 03 cây vàng l i cho ông S thì ông S sẽ giao trả đất cầm cố này l i cho ông Đ.

Nhưng khi ông S canh tác mới ch được thời h n 01 năm, ông Đ nợ Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L và không có khả năng trả nợ, n n Ngân hàng đã tiến hành phát mãi tài sản (c th là thửa đất được nhắc đến tr n) và thông báo việc hóa giá này tr n loa phát thanh của xã B, qui trình thực hiện Ngân hàng đã ưu ti n người mua là người đang trực tiếp canh tác là ông S. Sau đó Ngân hàng đã mời ông S, ông Đ đ thực hiện các giao d ch theo qui đ nh pháp luật. Tiếp theo, ông S thu xếp tiền và cùng ông Đ mang tiền ra trả Ngân hàng và ông Đ đã đồng ý chuy n nhượng thửa đất cho ông S. Đ a chính đã tiến hành đo đ c đúng diện tích thửa đất và Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã làm Giấy Chứng nhận uyền sử d ng đất cho ông S. Sau đó, vào năm 2016, ông S chuy n nhượng thửa đất này l i cho ông Đỗ Hữu L, sinh năm 1962, đ a ch cư trú: Số E, ấp B, xã B, huyện L, t nh Đồng Tháp. uá trình thực hiện chuy n nhượng thửa đất từ ông Đ cũng như chuy n nhượng cho ông L là đúng theo trình tự, quy đ nh của pháp luật thời đi m đó và hoàn toàn hợp pháp.

Nhưng từ năm 2017 đến nay, ông Đ nhiều lần kiện ông S ra ấp và xã về vấn đề “Tranh chấp hợp đồng quyền sử d ng đất”. Ấp và xã đã hòa giải nhiều lần nhưng vẫn không đ t được kết quả. Nhưng điều quan tr ng, lời khai của ông Đ những lần hỏa giải không có sự thống nhất với nhau về nội dung tranh chấp (Tranh chấp hợp đồng quyền sử d ng đất, tranh chấp hợp đồng cầm cố....). Cá biệt, có lần thì ông Đ nói ông S lấy không đúng diện tích thửa đất mà ông Đ chuy n nhượng cho ông S, vậy tức là ông Đ thừa nhận rằng có ký t n chuy n nhượng thửa đất cho ông S. Nhưng lần khác cũng như trong thông báo Tòa gửi cho ông S, ông Đ l i nói rằng ông Đ không ký t n chuy n nhượng thửa đất cho ông S. Rõ ràng, lời khai của ông Đ không thống nhất và tính trung thực về lời khai của ông Đ cần được xem xét l i. Lời khai không thống nhất của ông Đ giữa những lần hòa giải được ông Đỗ Hữu L và nhân vi n hòa giải ấp và xã chứng kiến. Vì v việc đã trải qua 23 năm n n bằng chứng hợp pháp còn l i là Giấy chứng nhận quy n sử d ng đất do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp. Còn nhân chứng là ông M - nhân viên Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L thời đi m đó đã chết, Đ a chính thời đi m đó, ông Đỗ Hữu L và các nhân viên.

Thứ nhất, ông Đ nói rằng không ký t n chuy n nhượng thửa đất cho ông S tức nói ông S mua thửa đất bất hợp pháp, vậy t i sao ông Đ không kh i kiện ông S vào năm 2000, khi mà v việc vừa mới xảy ra, các giấy tờ li n quan còn được lưu giữ, sẽ rất d dàng cho việc điều tra của Tòa.

Thứ hai, là một công dân tôn tr ng và tuyệt đối tuân thủ những quy đ nh của pháp luật, chuy n nhượng tài sản là đất đúng theo trình tự quy đ nh của pháp luật về việc chuy n nhượng thửa đất từ ông Đ sang cho ông S (trong đó có y u tố Ngân hàng Nông nghiệp và Phát tri n Nông xử lý nợ rủi ro), có sự đo đ c của Đ a chính về diện tích thửa đất được chuy n nhượng, được Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy Chứng nhận quyền sử d ng đất đối với thửa đất được nói tr n, thì việc ông Đ nói ông S mua bán đất bất hợp pháp chẳng khác gì vu khống Ngân hàng Nông nghiệp và P1 tri n nông thôn, Đ a chính cũng như Cơ quan cấp Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất làm sai quy đ nh của pháp luật Việt Nam.

Thứ ba, ông S y u cầu xác minh lời khai không thống nhất và bất hợp lý giữa những lần hòa giải ấp và xã của ông Đ từ ông Đỗ Hữu L và các nhân vi n hòa giải đ có sự đánh giá khách quan, chính xác và công bằng đối với lời khai của ông Đ trong thông báo của Tòa.

Tóm l i: Giao d ch chuy n nhượng tài sản là đất là việc thực hiện tự nguyện giữa ba b n theo đúng qui đ nh của pháp luật hiện hành, trong đó Ngân hàng đã trực tiếp là chủ th của giao d ch này. Có th nói th m rằng: Thời đi m đó, ông S trực tiếp thu xếp kinh phí chuy n nhượng SDĐ là một hành động gỡ rối cho ông Đ đ ông không phải vướng hoặc vi ph m trong giao d ch với ngân hàng, cũng như gián tiếp giúp ngân hàng xử lý nợ xấu do ông Đ vi ph m hợp đồng giao d ch gây ra.

Nay ông S không đồng ý theo y u cầu kh i kiện của ông Đ, vì ông S chuy n nhượng đất đúng theo quy đ nh của pháp.

- Tại văn bản ghi ý kiến; biên bản tiếp cận, công khai chứng cứ; biên bản hòa giải và tại phiên tòa ông Đỗ Hữu L trình bày: Vào tháng 12 năm 2016, ông L có mua thửa đất của ông Hồ Thanh S, thửa đất số 152, bản đồ số 16 thuộc ấp B, xã B, huyện L, t nh Đồng Tháp, diện tích 3.975 m2 đất trồng lúa, với giá tiền là 300.000.000 đồng. Trước khi mua ông L có đến UBND xã B hỏi đ a chính xã nói đất này hợp lệ không có tranh chấp n n ông L mới quyết đ nh mua.

Đến ngày 13 tháng 12 năm 2016 Ủy Ban Nhân Dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất cho ông L.

Đến mùa v x lúa, ông L x khoản ba ngày thì ông Nguy n Văn Đ đem cỏ trồng tr n thửa đất ông L từ bờ kinh vào khoảng 4m. ng L nói với ông Đ đất ông L sao ông trồng cỏ. ng Đ nói ngân hàng phát mãi bán cho ông S còn l i từ bờ kinh vào khoảng 4m n n tao trồng.

Sau đó ông L làm tờ tường trình gửi đến Ban hòa giải ấp. Ban hòa giải ấp mời ông Đ đến đ hòa giải 02 lần, nhưng không thành.

Hai v lúa sau ông Đ tiếp t c phá tr n thửa đất ông L. Ông L làm đơn trình cho UBND xã B. Ban hòa giải xã có mời ông Đ đ giải quyết, nhưng ông Đ nói thửa đất ngân hàng phát mãi bán cho ông S còn l i từ bờ kinh vào khoảng 4m. Ban hòa giải xã hỏi còn 4m vậy giấy tờ ông đâu, ông Đ nói ông không biết.

Đến tháng 9 năm 2023 thì ông Nguy n Văn Đ thưa ông Hồ Thanh S về việc cầm cố đất, Ban hòa giải xã có tiến hành giải quyết nhưng không thành.

Vì ông Đ nói trả l i 01 cây vàng là lấy đất l i làm. Theo ông L biết, ông Đ có cố cho ông S diện tích 3.975 m2 đất trồng lúa bằng 03 cây vàng. Sau đó chưa đến ngày chuột l i thì ngân hàng phát mãi phần đất của ông Đ, có thông tin l n phát thanh của xã. Sau đó ông S sợ mất 03 cây vàng, n n ông S mới mua thửa đất 3.975 m2 đất trồng lúa nói tr n. Đến năm 2016, ông S kêu ông L bán rồi chuy n quyền sử d ng đất cho ông L.

Nay ông L không đồng ý theo y u cầu kh i kiện của ông Đ. Vì phần đất tranh chấp thửa số 152, tờ số 16 t a l c t i xã B, huyện L, t nh Đồng Tháp do ông L nhận chuy n nhượng hợp pháp từ ông S, đất ông L đang quản lý sử d ng.

- Tại biên bản tiếp cận, công khai chứng cứ; biên bản hòa giải và tại phiên tòa bà Phạm Thu T trình bày: Bà T không đồng ý theo y u cầu kh i kiện của ông Đ, bà T thống nhất theo lời trình bày của ông S. Vì phần đất tranh chấp thửa số 152, tờ số 16 (trước đây là thửa 548, tờ bản đồ số 4), t a l c t i xã B, huyện L, t nh Đồng Tháp, trước khi cố cho ông S thì ông Đ đang thế chấp vay tiền t i Ngân hàng N. Do ông Đ không trả tiền vay Ngân hàng n n ngân hàng bán hóa giá thửa đất này đ thu hồi nợ, n n ông S mua l i sau đó chuy n nhượng hợp pháp cho ông L. Y u cầu Tòa án giải quyết theo đ nh pháp luật.

Nguy n đơn, b đơn và người có quyền lợi, nghĩa v li n quan thống nhất với bi n bản xem xét thẩm đ nh t i chỗ ngày 21/3/2024 của Tòa án và sơ đồ đo đ c ngày 03/4/2024 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L.

T i Bản án sơ thẩm số 32/2024/DS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò đã quyết đ nh:

hông chấp nhận y u cầu kh i kiện của ông Nguy n Văn Đ.

Ngoài ra, bản án còn tuy n về án phí, quyền và thời h n kháng cáo, quyền, nghĩa v và thời hiệu thi hành án của các đương sự theo quy đ nh của pháp luật.

- Ngày 30/5/2024, ông Nguy n Văn Đ kháng cáo y u cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết l i v án, theo hướng chấp nhận y u cầu kh i kiện của ông Đ, buộc ông S và ông L trả l i diện tích thửa 548 tờ bản đồ số 4, t i xã B cho ông Đ được quyền sử d ng.

- T i phi n tòa phúc thẩm:

+ Ông Bùi Văn P trình bày: Ông Nguy n Văn Đ giữ nguy n kháng cáo y u cầu xem xét l i bản án dân sự sơ thẩm.

+ Ông Hồ Thanh S trình bày: Ông S không đồng ý theo y u cầu kh i kiện của ông Đ.

+ Ông Đỗ Hữu L trình bày: Ông L không đồng ý theo y u cầu kh i kiện của ông Đ.

- Đ i diện Viện ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp phát bi u ý kiến về giải quyết v án:

+ Về tố t ng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đều thực hiện đúng quy đ nh của pháp luật.

+ Về nội dung: Đề ngh Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Nguy n Văn Đ; giữ nguy n bản án dân sự sơ thẩm.

Sau khi nghi n cứu các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được thẩm tra t i phi n tòa và căn cứ vào kết quả tranh t ng t i phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:

[1] Ông Nguy n Văn Đ kh i kiện đối với ông Hồ Thanh S, về việc tranh chấp hợp đồng cố đất, Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò th lý giải quyết là đúng quy đ nh của pháp luật. ng Đ kháng cáo trong thời h n là hợp lệ. ng Đ ủy quyền cho ông Bùi Văn P thủ t c ủy quyền phù hợp n n chấp nhận.

[2] Theo ông Đ trình bày nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Đ diện tích 3.579m2 thửa số 548 (lúa) tờ bản đồ số 4, cấp giấy chứng nhận cho ông Đ ngày 20/9/1993; đất t i xã B, huyện T (nay là huyện L), t nh Đồng Tháp. Năm 1999, ông Đ cố đất cho ông S diện tích 3.579m2 thửa số 548 n u tr n. Nay ông Đ y u cầu chấm dứt hợp đồng cố đất và y u cầu ông S trả l i đất. ng S không đồng ý theo y u cầu của ông Đ, vì ông S đã nhận chuy n nhượng SDĐ của ông Đ đúng theo quy đ nh của pháp luật.

Ông Đ và ông S đều khai thống nhất vào năm 1999 thì ông Đ có thỏa thuận cố đất cho ông S. Tuy nhiên, ông Đ cho rằng giá cố đất là 01 lượng vàng 24k vàng th trường, thời h n cố đất đến khi nào ông Đ trả l i vàng thì ông S mới trả l i đất, nhưng ông S xác đ nh giá cố đất là 03 lượng vàng 24k và thỏa thuận trong thời h n 03 năm, nếu ông Đ trả vàng l i cho ông S thì ông S sẽ trả l i phần đất cố. Hai b n có lập giấy viết tay giao cho ông Đ giữ nhưng ông Đ không cung cấp được giấy cố đất năm 1999.

[3] Xét thấy t i thời đi m cố đất thì ông Đ đã thế chấp giấy chứng nhận SDĐ đ vay tiền Ngân hàng N - Chi nhánh huyện L (g i tắt là Ngân hàng). Theo ông S trình bày là sau khi cố đất được một năm thì ông Đ chuy n nhượng phần đất cố luôn cho ông S với giá 05 lượng 01 ch 05 phân vàng 24k (quy thành tiền trả nợ Ngân hàng). Nguy n nhân: ng Đ không khả năng trả tiền vay Ngân hàng, n n Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp của ông Đ và việc phát mãi tài sản thế chấp được thông báo tr n loa phát thanh của xã B. Do ông S là người đang quản lý canh tác thửa đất số 548 (lúa), n n được ưu ti n nhận chuy n nhượng và việc chuy n nhượng SDĐ là do ông Đ với ông S tự thỏa thuận về giá chuy n nhượng, sau đó ông S mang tiền đi cùng với ông Đ đến Ngân hàng trả nợ và hai b n thực hiện thủ t c chuy n nhượng SDĐ, ông S được cấp giấy chứng nhận SDĐ theo quy đ nh của pháp luật.

T i Công văn số 1949/CNVPĐ ĐĐHLV-Đ CG ngày 25/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L ý kiến như sau: Thửa đất số 548 tờ bản đồ số 4 được Ủy ban nhân dân huyện L cấp cho hộ ông Hồ Thanh S vào ngày 21/6/2000, t i xã B, huyện L, t nh Đồng Tháp. Hiện không tìm được hồ sơ lưu trữ n n không th cung cấp thông tin theo y u cầu của đơn v (Tòa án). Nguyên nhân: Việc lưu trữ hồ sơ trước đây gặp nhiều khó khăn và công tác lưu trữ chưa đảm bảo theo quy đ nh n n hồ sơ thất l c chưa tìm được.

Ngày 29/7/2024, ông P có đơn y u cầu Tòa án T nh thu thập tài liệu, chứng cứ là hồ sơ vay, hồ sơ giải chấp tài sản thế chấp của ông Đ t i Ngân hàng vào năm 2000. T i phi n tòa, ông P xác đ nh ch cung cấp được bản phô giấy chứng nhận SDĐ cấp cho ông Đ ngày 20/9/1993 và bản phô tô căn cước công dân của ông Đ đ có thông tin thu thập hồ sơ vay tiền, thế chấp tài sản của ông Đ (ông Đ không có lưu giữ hợp đồng tín d ng, hợp đồng thế chấp). Đối với ông S cũng khẳng đ nh không cung cấp được hợp đồng tín d ng, hợp đồng thế chấp tài sản của ông Đ và chứng từ nộp tiền thanh toán nợ Ngân hàng đ lấy giấy chứng nhận SDĐ thế chấp ra làm thủ t c chuy n nhượng thửa đất 548.

T i Công văn số 1519/NHNo. HCN ngày 19/9/2024 của Ngân hàng N – Chi nhánh t nh Đ, cung cấp thông tin như sau: A Chi nhánh t nh Đ đã tiến hành ch đ o các bộ phận nghiệp v t i T nh và A Chi nhánh huyện L rà soát đ thu thập thông tin, chứng cứ li n quan đến v việc. Nhưng do vào thời đi m từ năm 1999 đến năm 2001 A sử d ng chương trình quản lý khách hàng cũ khác so với hiện nay (hiện nay đã chuy n đổi sang chương trình quản lý khách hàng mới), n n đ có cơ s thu thập l i các chứng cứ li n quan đến v việc tr n cần có thời gian c th (c th ngày vay, ngày trả nợ, ngày rút quyền sử d ng đất ... ), thì đơn v mới có cơ s tra cứu thông tin l i được, với các thông tin của Tòa án cung cấp thì không đủ cơ s dữ liệu đ thu thập chứng cứ theo y u cầu.

T i bi n bản hòa giải ngày 07/9/2023 ông Đ cho rằng không hi u vì sao phần đất của ông l i được cắt chuy n cho ông S sử d ng, sau đó ông S bán cho ông L. Nhận thấy, ông Đ cho rằng hoàn toàn không biết việc chuy n nhượng là không phù hợp thực tế, b i vì sau khi việc chuy n nhượng SDĐ giữa ông Đ và ông S, giấy chứng nhận đã được cơ quan có thẩm quyền điều ch nh biến động t i trang 4. Ông Đ không thừa nhận việc chuy n nhượng SDĐ, nhưng ông Đ cung cấp giấy chứng nhận SDĐ (phô tô) do ông Đ đứng t n cấp ngày 20/9/1993 th hiện nội dung là thửa số 548 chuyển nhượng cho ông Hồ Thanh S hết diện tích có xác nhận của Ủy ban nhân dân huyện L (ký tên đóng dấu). Trong khi đó ông Đ biết đ c, biết viết nhưng khi nhận l i giấy chứng nhận SDĐ thì ông Đ hoàn toàn không có khiếu n i, đồng thời ông Đ cũng có đất gần phần đất tranh chấp nhưng ông cũng không tranh chấp gì trong thời gian dài tr n 20 năm.

Mặt khác ông P đ i diện cho ông Đ y u cầu chấm dứt hợp đồng cố đất nhưng không xuất trình được giấy cố đất. ua đó cho thấy khi thực hiện việc chuy n nhượng SDĐ thì giấy cố đất cũng đã b hủy bỏ là phù hợp giao d ch thông thường. Việc thế chấp giấy chứng nhận SDĐ cho Ngân hàng là nhằm m c đích bảo đảm nghĩa v trả nợ vay và ch khi ông Đ thanh toán tiền vay cho Ngân hàng thì Ngân hàng mới lập thủ t c giải chấp tài sản thế chấp (nếu không trả nợ vay thì Ngân hàng sẽ không trả l i giấy chứng nhận), vì vậy ông Đ cho rằng ông không có ký t n đ thực hiện thủ t c chuy n nhượng SDĐ cho ông S là không có cơ s .

T i phi n tòa sơ thẩm, ông Đ thừa nhận vào năm 2011 thì ông có đăng ký cấp đổi giấy chứng nhận SDĐ và ông biết giấy chứng nhận được cấp l i ch còn 02 thửa đất (không có thửa số 548), nhưng ông Đ hoàn toàn không có khiếu n i theo quy đ nh.

Ngoài ra bi n bản hòa giải ngày 07/9/2023 của Ủy ban nhân dân xã B, th hiện ý kiến của một số thành vi n Hội đồng hòa giải cho rằng ông Đ vay tiền Ngân hàng đến quá thời h n quy đ nh n n Ngân hàng phát mãi tài sản thế chấp, bán cho ông S là người đang canh tác.

T i phi n tòa phúc thẩm, ông P không cung cấp được chứng cứ mới chứng minh cho y u cầu kháng cáo của ông Đ, n n kháng cáo của ông Đ là không có cơ s .

[4] Đ i diện Viện ki m sát nhân dân t nh Đồng Tháp đề ngh không chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông Đ; giữ nguy n bản án dân sự sơ thẩm là có cơ s n n chấp nhận.

Tòa án cấp sơ thẩm xử đã có căn cứ pháp luật n n giữ nguy n quyết đ nh của bản án dân sự sơ thẩm, không chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông Đ. Các phần khác không có kháng cáo, kháng ngh có hiệu lực pháp luật.

[5] Án phí dân sự phúc thẩm: ng Đ phải ch u 300.000đ, nhưng ông Đ là người cao tuổi n n được mi n tiền án phí.

Vì các lẽ tr n;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 500, 501, 502 và 503 Bộ luật dân sự; khoản 3 Điều 26; đi m a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố t ng dân sự; Điều 2 Luật người cao tuổi năm 2009; đi m đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 26 Ngh quyết số 326/2016/UBTV H14, ngày 30/12/2016 quy đ nh về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí tòa án.

1. hông chấp nhận y u cầu kháng cáo của ông Nguy n Văn Đ.

Giữ nguy n bản án dân sự sơ thẩm.

2. hông chấp nhận y u cầu kh i kiện của ông Nguy n Văn Đ.

3. Tiền án phí dân sự sơ thẩm: Mi n tiền án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguy n Văn Đ.

4. Tiền chi phí xem xét thẩm đ nh t i chỗ: Ông Nguy n Văn Đ ch u 5.799.000 đồng (đã nộp và chi xong).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy đ nh t i Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, y u cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc b cưỡng chế thi hành án theo quy đ nh t i các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy đ nh t i Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật k từ ngày tuy n án./.

Cỡ chữ