- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? 39; khoản 1 và khoản 4 Điều 91; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 591/2019/HNGĐ-ST Ngày: 20/5/2019 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Lê Tứ Nhị
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Công Lý
Ông Võ Thành Viên
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Kim Hoài – Thư ký Toà án Gò Vấp
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thị Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 20 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ
thẩm công khai vụ án thụ lý số 258/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2019 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/4/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 58/2019/QĐST – HNGĐ ngày 02/5/2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phan Thị D, sinh năm 1974; Địa chỉ: phường 8, quận Gò
Vấp, TPHCM;
Bị đơn: Ông Huỳnh Quang C, sinh năm 1970; Địa chỉ: phường 4, quận Gò
Vấp, TPHCM
(Bà D có đơn xin vắng mặt. Ông C vắng mặt không lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 14/01/2019 ông Huỳnh Quang C và bà Phan Thị D nộp đơn yêu cầu tòa
án công nhận thuận thuận tình ly hôn. Tòa án đã thụ lý sơ thẩm việc dân sự số 114/2019/TLHNGĐ - ST ngày 23/01/2019. Ông C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vắng mặt không có lý do. Bà D có đơn yêu cầu ly hôn đối với ông C. Do đó, tòa án hòa giải đoàn tụ không thành và các đương sự không thỏa thuận được về việc chia tài sản, việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì tòa án đình chỉ giải quyết việc dân sự về công nhận thuận tình ly hôn và thụ lý vụ án để giải quyết.
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn là bà Phan Thị D và các tài
liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện:
Bà Phan Thị D và ông Huỳnh Quang C chung sống tự nguyện, có đăng ký kết
hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 065, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân phường 4, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/8/2012. Cuộc sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn nhưng nguyên nhân chính là do ông C bỏ bê gia đình, không quan tâm đến con cái. Xác định tình cảm dành cho ông C không còn nên bà D yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống của mình. Cả hai chung sống có hai con chung tên Huỳnh Công D, sinh ngày 08/01/1996, đã trưởng thành và Huỳnh Minh D, sinh ngày 01/8/2012. Trẻ D hiện đang do bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng nên bà D đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Huỳnh Minh D và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn là ông Huỳnh Quang C mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn
bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến tòa án làm bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông C không đến nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Tòa án cũng đã tống đạt thông báo về kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa cho ông C nhưng ông C vẫn vắng mặt do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông C.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên yêu
cầu như nêu trên.
Bị đơn vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của
Thẩm phán và Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp ly hôn, bị
đơn đang cư trú tại quận Gò Vấp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử Thẩm phán và Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về người tham gia tố tụng: Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương
sự, việc cấp tống đạt các giấy tờ cho Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua diễn
biến tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp nhận thấy có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
toà, Tòa án nhận định:
. Về tố tụng:
1.1 Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án:
Bị đơn có đăng ký thường trú tại địa chỉ --- phường 4, quận Gò Vấp, TPHCM;
Nguyên đơn gửi đơn ly hôn đến Toà án nhân dân quận Gò Vấp là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Các đương sự thương yêu, tìm hiểu và tự nguyện sống chung có đăng ký kết
hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 065, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân phường 4, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/8/2012; Nay có yêu cầu ly hôn, xác định đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
1.2 Về người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa phù hợp quy định tại khoản 1
Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không đến Tòa án để giải
quyết vụ án là đã tước bỏ quyền được chứng minh của mình, bị đơn phải chịu hậu quả của việc không chứng minh. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết vụ án vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung quy định tại khoản 4 Điều 91; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu của các đương sự:
Về mâu thuẫn vợ chồng: Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn vợ chồng là do ông
C bỏ bê gia đình, không quan tâm chăm sóc con cái. Nguyên đơn xác định tình cảm dành cho bị đơn không còn nên yêu cầu ly hôn để ổn định cuộc sống riêng.
Về phía bị đơn, Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo
đúng quy định pháp luật nhưng bị đơn luôn vắng mặt. Do đó tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 23/01/2019 Tòa án nhân dân quận Gò Vấp
thụ lý việc dân sự về yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn của ông Huỳnh Quang C và bà Phan Thị D theo đơn yêu cầu nộp ngày 14/01/2019. Quá trình giải quyết việc dân sự, tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ hai lần nhưng ông C vắng mặt không có lý do. Bà D có đơn khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết ly hôn. Do đó, tòa án đã đình chỉ giải quyết việc dân sự, thụ lý vụ án ly hôn để giải quyết theo quy định tại khoản 5 Điều 397 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình là phải xây dựng trên cơ
sở tự nguyện, bình đẳng; Các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau. Việc ông Châu bỏ bê gia đình, không quan tâm chăm sóc con cái thể hiện đời sống vợ chồng không có sự quan tâm, chăm sóc, chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau. Bị đơn không đến Tòa án để giải quyết vụ án cho thấy bị đơn không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình, bỏ mặc hôn nhân và gia đình của mình. Cuộc sống hôn nhân của các đương sự lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên ly hôn là giải pháp tốt nhất để cả hai tự ổn định cuộc sống riêng của mình. Vì vậy, xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở và phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Có hai con chung tên Huỳnh Công D, sinh ngày 08/01/1996,
đã trưởng thành và Huỳnh Minh D, sinh ngày 01/8/2012. Bà D đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Huỳnh Minh D và không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Do ông C vắng mặt và vì quyền lợi của trẻ em nên việc giao trẻ D cho bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành là cần thiết và phù hợp với quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Bà D không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con nhưng vì quyền lợi của con
nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông C cho đến khi bà D có yêu cầu.
Về tài sản chung: Không yêu cầu nên tòa án không xem xét giải quyết.
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ
luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tại phiên tòa là
phù hợp với phần nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều
39; khoản 1 và khoản 4 Điều 91; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 6, 7, 9 và 30 Luật thi hành án dân sự;
Căn cứ Luật phí và lệ phí;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày
30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị D được ly hôn ông Huỳnh Quang C. Giấy
chứng nhận kết hôn số 065, quyển số 01/2012 do Ủy ban nhân dân phường 4, quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 11/8/2012 không còn hiệu lực.
Về con chung: Có hai con chung tên Huỳnh Công D, sinh ngày 08/01/1996,
đã trưởng thành và Huỳnh Minh D, sinh ngày 01/8/2012.
Giao bà Phan Thị D được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Huỳnh
Minh D, sinh ngày 01/8/2012 cho đến khi trưởng thành.
Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Huỳnh Quang C cho đến khi
bà Phan Thị D có yêu cầu.
Ông Huỳnh Quang C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom
con mà không ai được cản trở. Trường hợp lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của người không trực tiếp nuôi con.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức
thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi. Việc thay
đổi mức cấp dưỡng nuôi con do các bên thỏa thuận; Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Không yêu cầu nên tòa án không xem xét.
2/ Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) do
bà Phan Thị D chịu, nhưng được cấn trừ vào số tiền 300.000 đồng bà D đã tạm nộp án phí theo biên lai thu số AA/2018/0000008 ngày 23/01/2019 của Chi cục Thi hành án quận Gò Vấp. Bà Phan Thị D đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận : - TAND TPHCM; - VKSNDQGV; - CCTHADS QGV; - Nơi cấp GCNKH; - Đương sự; - Lưu VP, HS. | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Lê Tứ Nhị |