- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Tòa quyết gì? 1/.Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Mỹ A ly hôn anh Lê Tấn B.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt anh B; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt anh B; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 591/2019/HNGĐ-ST. Ngày: 22/10/2019 V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”. Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: -Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Đạt. -Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Châu Vũ Bình. 2/ Ông Nguyễn Trung Trực. Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Lý Nguyễn Huyền Trang-Kiểm sát viên. Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 373/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 9 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 140/2019/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2019 giữa các đương sự: * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Mỹ A, sinh năm 1997. (có mặt) Trú tại: ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang. * Bị đơn: Anh Lê Tấn B, sinh năm 1994. (vắng mặt) Trú tại: ấp M1, xã N1, huyện Y, tỉnh Tiền Giang; | Ngày 22 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh |
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Mỹ A trình bày:
- Về hôn nhân: Chị và anh Lê Tấn B do tìm hiểu, tiến đến hôn nhân năm 2015 và được Ủy ban nhân dân xã N1 cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 26 ngày 29/4/2017. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị sống hạnh Cc đến đầu năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, cãi nhau thường xuyên, vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không hòa hợp, vợ chồng ít gần gũi quan tâm dẫn đến mâu thuẫn ngày càng trầm trọng mà không có biện pháp nào hàn gắn tình cảm nên đã sống ly thân từ cuối năm 2017. Nay tình cảm không còn, chị yêu cầu được ly hôn anh Lê Tấn B.
- Về con chung: có 01 con chung tên Lê Thiên C, sinh ngày 13/10/2016 hiện đang sống cùng chị A. Khi ly hôn, chị A yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có.
- Về nợ chung: Không có.
*Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến:
-Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
-Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Mỹ A ly hôn với anh Lê Tấn B; Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị A, giao con chung tên Lê Thiên C, sinh ngày 13/10/2016 cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A không yêu cầu.
-Về tài sản chung và nợ chung do chị A trình bày không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và tranh luận công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về pháp luật tố tụng: Chị Nguyễn Thị Mỹ A có đơn khởi kiện về việc xin ly hôn anh Lê Tấn B. Anh B có địa chỉ thường trú tại xã N1, huyện Y, tỉnh Tiền Giang. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Anh B mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xử vắng mặt anh B.
Về quan hệ hôn nhân: Tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Mỹ A trình bày chị và anh B đã tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N1 năm 2017. Đây là hôn nhân hợp pháp. Chị A trình bày trong quá trình chung sống thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, đã sống ly thân, nay không còn tình cảm nên cương quyết xin ly hôn. Anh B mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, thể hiện anh không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị A, anh B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đã sống ly thân, vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình cho chị Nguyễn Thị Mỹ A ly hôn anh Lê Tấn B.
Về con chung: Tại phiên tòa, chị A trình bày có 01 con chung tên Lê Thiên C, sinh ngày 13/10/2016 hiện đang sống cùng chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, hiện cháu C tuổi còn còn nhỏ, vừa tròn 36 tháng tuổi nên để ổn định về mặt tâm lý và nơi học tập của trẻ chưa thành niên, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận theo yêu cầu của chị A được tiếp tục trực tiếp nuôi con chung, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A không yêu cầu.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Mỹ A trình bày không có nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo về việc giải quyết quan hệ hôn nhân, nuôi con chung giữa chị A, anh B là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
-Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
-Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
1/.Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Mỹ A ly hôn anh Lê Tấn B.
2/. Về con chung: Giao cháu Lê Thiên C, sinh ngày 13/10/2016 cho chị Nguyễn Thị Mỹ A được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Lê Tấn B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị A không yêu cầu.
Anh Lê Tấn B được đến thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.
3/ Án phí:
Chị Nguyễn Thị Mỹ A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002729 ngày 02/7/2019 được khấu trừ nên chị không phải nộp tiếp.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án chị A được quyền kháng cáo và cũng trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án, anh B được quyền kháng cáo bản án này để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo thủ tục Cc thẩm.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: -TAND tỉnh Tiền Giang; -VKSND H.Chợ Gạo; -Chi cục THADS H. Chợ Gạo; -UBND xã N1; -Các đương sự; -Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm Phán-Chủ Tọa Phiên Tòa (đã ký) Nguyễn Quốc Đạt |