vanban.org

Bản án 59

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Trần Thanh N, phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Xử phạt: bị cáo Trần Thanh N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày bị bắt (28/12/2021). Tuyên bố: bị cáo Đỗ Minh C, phạm tội “Cố ý gây thương tích” Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nam Cường - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Trần Thanh N, phạm tội “Cố ý gây thương tích”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 101 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2022HSST
Ngày: 25/5/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thạch

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trọng Di - Giáo viên hưu trí

2. Bà Nguyễn Hoàng Bích Loan - Phó chủ tịch Hội nông dân huyện T.

- Thư ký phiên tòa: ông Đắc Quốc Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện T

- Đại diện Viện kiểm sát huyện T tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thìn - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 25/2022/HSST ngày 04/4/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2022/QĐXXST-HS ngày 13/5/2022, đối với các bị cáo:

1. Trần Thanh N, (tên gọi khác: Út Xị), sinh ngày: 20/10/2003; tại: tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: khu phố Giang Hải 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 5/12; giới tính: N; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt N; con ông Trần Văn Phước và bà Phạm Thị Ngọc Sơn; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt ngày 28/12/2021 và có mặt tại phiên tòa.

2. Đỗ Minh C, (tên gọi khác: Quậy), sinh năm 1996; tại: tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: khu phố Song Thanh 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 8/12; giới tính: N; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt N; con ông Đỗ Chí Sĩ và bà Trương Thị Kim Minh; vợ, con: chưa có;

Có 01 tiền án: ngày 26/11/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xử phạt 09 năm tù về tội “Giết người” tại Bản án số 61/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/9/2020.

Có 03 tiền sự:

- Ngày 03/6/2021 bị Công an thị trấn Phan Rí Cửa phạt số tiền 750.000 đồng tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0014245, do có hành vi đánh bà Lê Thị Kim Anh vào ngày 26/4/2021, đến nay chưa nộp phạt;

- Ngày 12/8/2021 bị Công an thị trấn Phan Rí Cửa phạt số tiền 750.000 đồng tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0014242, do có hành vi đánh nhau tại nhà ông Hồ Văn Dương vào ngày 06/8/2021, đã nộp phạt;

- Ngày 14/9/2021 bị Công an huyện T phạt số tiền 2.500.000 đồng tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0029720, do có hành vi dùng hung khí rượt đánh nhau với mục đích gây thương tích cho người khác vào ngày 11/02/2021.

Bị cáo bị bắt theo quyết định truy nã vào ngày 05/01/2022 và có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Nguyễn Hữu Phi - sinh năm 2002. Nơi cư trú: khu phố Phú Hòa, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

- Người đại diện theo pháp luật của bị cáo Trần Thanh N: ông Trần Văn Phước - sinh năm 1968, bà Phạm Thị Ngọc Sơn - sinh năm 1968. Nơi cư trú: khu phố Giang Hải 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận (là cha, mẹ của N

- có mặt).

- Những người làm chứng:

+ Bùi Anh Thịnh - sinh ngày 02/12/2003. Nơi cư trú: khu phố Xuân Giang 1, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

+ Nguyễn Văn Đan - sinh ngày 06/6/2005. Nơi cư trú: khu phố Song Thanh 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

+ Nguyễn Tấn Hải - sinh năm 2001. Nơi cư trú: thôn Lâm Lộc 1, xã Hòa Minh, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

+ Lê Văn Hậu - sinh năm 2000. Nơi cư trú: khu phố Phú Tân, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

+ Nguyễn Lê Chí Việt - sinh năm 2000. Nơi cư trú: khu phố Giang Hải 2, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

+ Phạm Minh Trúc - sinh năm 2003. Nơi cư trú: thôn Lâm Lộc 2, xã Hòa Minh, huyện T, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

+ Nguyễn Văn Duy - sinh năm 2003. Nơi cư trú: khu phố Xuân Giang 1, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

+ Bùi Ngọc N - sinh năm 2002. Nơi cư trú: khu phố Phú Hòa, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

+ Võ Ngọc C - sinh năm 2004. Nơi cư trú: khu phố Phú Tân, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được thể hiện như sau:

Xuất phát từ nguyên nhân vào đêm ngày 08/10/2021, Nguyễn Hữu Phi cùng một số người bạn trong đó có Bùi Ngọc N; Lê Văn Hậu và Võ Ngọc C, cung trú tại khu phố Phú Tân, thị trấn Phan Rí Cửa đến nhà người bạn tên thường gọi là Quậy ở khu phố Phú Tân, thị trấn Phan Rí Cửa đi đám tang của gia đình Quậy. Trong quá trình thức đám tang tại nhà Quậy thì giữa Bùi Ngọc N và Trần Thanh N cũng là người đi đám tang nhà Quậy, xảy ra mâu thuẫn đánh nhau. Bùi Ngọc N bị Trần Thanh N dùng mũ bảo hiểm đánh lên đầu nhưng không gây ra thương tích gì, Bùi Ngọc N bỏ đi về nhà lấy dao tự tạo cùng với bạn đi xe mô tô quay lại gặp Trần Thanh N đang chạy xe mô tô một mình trên đường đi về nhà đến ngã tư thuộc khu phố Phú Tân, thị trấn Phan Rí Cửa. Đến khoảng 02 giờ ngày 09/10/2021 Bùi Ngọc N cùng bạn rượt đuổi theo dùng dao tự tạo chém vào lưng Trần Thanh N nhưng không gây ra thương tích gì đáng kể. Trần Thanh N bỏ chạy đến cầu Sông Lũy thì gặp Đỗ Minh C đi xe mô tô một mình ngược chiều hướng Phan Rí Cửa đi đến. Trần Thanh N gọi C quay xe mô tô lại, Trần Thanh N kể C nghe sự việc bị đánh như trên, rủ C cùng tham gia đi tìm Bùi Ngọc N đánh lại trả thù C đồng ý. Do cả hai không có hung khí nên đã quay xe mô tô về phan Rí cửa lấy hung khí, Trần Thanh N đến nhà bạn tên Bùi Anh Thịnh, tại: khu phố Xuân Giang 1, thị trấn Phan Rí Cửa ra sau bếp nhà Thịnh lấy một con dao tự tạo dài khoảng 60cm, mũi nhọn rộng mặt lưỡi 4cm, cán gỗ rồi ra đứng trước đường hương lộ đợi C quay lại nhưng gia đình Thịnh không ai hay biết. Sau đó, C quay lại cũng mang theo con dao tự tạo, chở Trần Thanh N đến đám tang nhà Quậy khi ấy Bùi Ngọc N đã về nhà ngủ. Tiếp tục C chở Trần Thanh N đi tìm đến công viên đang xây dựng tại khu phố Phú Tân, thị trấn Phan Rí Cửa thấy Bùi Anh Thịnh cùng nhóm đang ngồi nhậu, C dừng xe mô tô lại tìm không thấy có N. Liền lúc ấy Phi điều khiển xe mô tô chở Hậu ngồi giữa và Võ Ngọc C ngồi sau cùng từ đám tang nhà Quậy chạy ngang qua về nhà N ngủ, Trần Thanh N nghi vấn N người trước đó xảy ra mâu thuẫn với mình nên lên tiếng nói "Nó á, Nó á" C nổ máy xe mô tô chở Trần Thanh N rượt đuổi theo. Khi đến nhà Bùi Ngọc N nên Phi dừng xe mô tô lại gọi điện thoại cho N mở cửa để vào nhà ngủ, C và Trần Thanh N đuổi kịp đến Hậu và Võ Ngọc C phát hiện thấy Đỗ Minh C và Trần Thanh N tay cầm hung khí nên bung bỏ chạy, Phi chưa kịp chạy đã bị Đỗ Minh C xông đến dùng dao tự tạo chém một nhát trúng vào đỉnh đầu làm cho Phi bị choáng ngồi xuống, tiếp tục Đỗ Minh C dùng dao tự tạo xông tới chém Phi thêm nhiều nhát. Thấy Đỗ Minh C chém Phi nên Trần Thanh N cầm dao tự tạo ở tay phải cũng xông vào chém thêm 03 hoặc 04 nhát vào người Phi, Bùi Anh Thịnh cùng bạn Thịnh chạy đến xem thấy vậy Thịnh xông vào can ngăn chụp dao tự tạo của Trần Thanh N không cho chém Phi cũng đã bị thương tích rách da chảy máu ở ngón giữa và ngón trỏ bàn tay trái. Đỗ Minh C và Trần Thanh N cầm dao tự tạo ra xe mô tô C chở N bỏ đi, trên đường đi Trần Thanh N đã vứt bỏ mất con dao dùng chém Phi không thu hồi được.

Theo Giấy chứng nhận thương tích số: 18/2021/CN của Bệnh viện đa khoa khu vực Bắc Bình Thuận, xác định Nguyễn Hữu Phi vào viện lúc 04 giờ 30 phút ngày 09/10/2021, tình trạng thương tích lúc vào viện: Bệnh lơ mơ, đồng tử hai bên đều; Vùng đỉnh đầu có 01 vết thương #06cm sâu nứt sọ, chảy máu; 1/3 giữa cẳng tay trái có 01 vết thương sắc gọn dài #08cm, đứt nhóm cơ gấp cẳng tay (T); Gãy 1/3 giữa xương trụ trái nghi đứt mạch máu, thần kinh trụ trái; Mạch cổ tay trụ (T) (-), bàn tay trái vuốt trụ. Chuyển tuyến trên.

Theo Giấy chứng nhận thương tích số: 253/10/2021/CN của Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Thuận xác định Nguyễn Hữu Phi vào viện lúc 06 giờ 30 phút ngày 09/10/2021, ra viện lúc 17 giờ ngày 15/10/2021, tình trạng thương tích: Vết thương đỉnh trái dài khoảng 07cm + vết thương phúc tạp cẳng tay trái dài khoảng 15cm, đứt động mạch trụ, thần kinh trụ, đứt cơ gấp các ngón nông – sâu tay trái, đứt gân gấp cổ tay trụ + vết thương ngón II tay trái dài khoảng 03cm đứt gân gấp nông + vết thương ngón III tay trái dài khoảng 03cm đứt gân gấp nông + vết thương phần mềm cẳng chân phải khoảng 04cm, mu bàn chân phải khoảng 03cm, ngón I chân phải khoảng 02cn, ngón II chân phải khoảng 02cm, Xquang gãy 1/3 giữa xương trụ trái + không thấy tổn thương xương bàn tay trái, chụp CT Scanner lún sọ đỉnh trái, tụ khí nội sọ.

Tại Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 38/2022/TgT ngày 29/11/2021 của Trung tâm pháp y – Sở y tế Bình Thuận xác định tiến hành giám định cho Nguyễn Hữu Phi lúc 09 giờ 15 phút ngày 24/11/2021, kết luận:

- Vết thương - chấn thương đỉnh đầu trái, lún sọ đỉnh trái đã được điều trị, hiện để lại sẹo vết thương kích thước: 06×0,4cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 16 % + 2%.

- Vết thương - chấn thương mặt sau trong 1/3 giữa cẳng tay trái, đứt bó mạch thần kinh trụ trái, đứt cơ gấp nông sâu các ngón bàn tay trái, đứt gân gấp cổ tay trụ trái, gãy 1/3 giữa xương trụ trái, đã được phẫu thuật điều trị hiện có bằng chứng tổn thương dây thần kinh trụ trái dạng hỗn hợp, vị trí tổn thương tại vết thương cẳng tay trái, mức độ rất nặng; để lại sẹo vết thương hình cung kích thước 13×0,4cm; sẹo vết mỗ kích thước 5,5×0,3cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 15% + 10% + 4% + 3% + 2%.

- Vết thương mặt lòng đốt giữa ngón II bàn tay trái, đứt gân gấp nông ngón II bàn tay trái đã được phẫu thuật điều trị, hiện hạn chế duỗi ngón II bàn tay trái, không gập được đốt giữa - đốt xa ngón II bàn tay trái, để lại sẹo kích thước: 04×0,1cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1 % + 3%.

- Vết thương mặt lòng đốt giữa ngón III bàn tay trái, đứt gân gấp nông ngón III bàn tay trái đã được phẫu thuật điều trị, hiện hạn chế duỗi ngón III bàn tay trái, không gập được đốt giữa - đốt xa ngón III bàn tay trái, để lại sẹo kích thước: 04×0,2cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1 % + 2%.

- Vết thương phần mềm mặt trước giữa cẳng chân phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước: 09×0,3cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.

- Vết thương phần mềm cạnh ngoài ngón I bàn chân phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước: 02×0,1cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.

- Vết thương phần mềm mặt lòng ngón II bàn chân phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước: 1,8×0,1cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.

- Vết thương phần mềm mu bàn chân phải đã được điều trị, hiện để lại sẹo kích thước: 4,5×0,2cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 1%.

- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho Nguyễn Hữu Phi là 49% (Bốn mươi chín phần trăm).

- Các vết thương do vật sắc gây ra.

- Vết thương đỉnh đầu trái có chiều hướng tác động từ trên xuống dưới; Các vết thương cẳng - bàn tay trái, cẳng - bàn chân phải có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.

Tại bản cáo trạng số: 35CT-VKSTP-HS, ngày 04/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, đã truy tố các bị cáo Trần Thanh N và Đỗ Minh C, về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), có 02 tình tiết định khung quy định tại điểm a, điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thanh N và Đỗ Minh C, phạm tội “Cố ý gây thương tích”

- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần Thanh N, mức án từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.

- Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, khoản 1 Điều 50, Điều 58 Bộ luật hình sự năm 2015(sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đỗ Minh C, mức án từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù.

- Về phần bồi thường dân sự: áp dụng khoản 5 Điều 275, Điều 584, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Công nhận sự thỏa thuận giữa bị hại và các bị cáo tại phiên tòa, theo đó:

- Bị cáo Trần Thanh N phải có trách nhiệm tiếp tục bồi thường toàn bộ chi phí điều trị thương tích và các khoản hợp lý khác cho bị hại Nguyễn Hữu Phi, với tổng số tiền là 19.429.500 đồng, tạm giữ số tiền 3.000.000đ của bị cáo đã nộp tại biên lai thu tiền số 0001563 ngày 16/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T để đảm bảo trong việc thi hành án.

Bị cáo N phải bồi thường bằng tài sản riêng của mình, nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha mẹ bị cáo phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

- Bị cáo Đỗ Minh C phải có trách nhiệm tiếp tục bồi thường toàn bộ chi phí điều trị thương tích và các khoản hợp lý khác cho bị hại Nguyễn Hữu Phi, với tổng số tiền là 18.429.500 đồng, tạm giữ số tiền 20.000.000đ của bị cáo đã nộp tại biên lai thu tiền số 0001562 ngày 16/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T để đảm bảo trong việc thi hành án.

Kể từ ngày bị hại Nguyễn Hữu Phi có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo N phải có trách nhiệm trả lãi của số tiền còn phải thi hành án theo qui định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó có cơ sở khẳng định các hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi của bị cáo và chứng cứ chứng minh:

Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, các bị cáo Trần Thanh N và Đỗ Minh C đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, các bị cáo khẳng định những lời khai của mình trong quá trình điều tra vụ án là hoàn toàn tự nguyện, không bị bức cung, ép cung và bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là hoàn toàn đúng pháp luật, không oan sai. Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, những người làm chứng và các chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: vào khoảng hơn 02 giờ 00 phút ngày 09/10/2021 tại khu vực công viên đang xây dựng thuộc khu phố Phú Tân, thị trấn Phan Rí Cửa, huyện T do Trần Thanh N và Đỗ Minh C, cùng nhau cầm hung khí là dao tự tạo chém Nguyễn Hữu Phi gây ra thương tích, có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 49%, như bản kết luận giám định pháp y số: 38/2022/TgT ngày 29/11/2022 của Trung Tâm giám định pháp y- Sở Y tế tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, bản cáo trạng số 35CT-VKSTP-HS, ngày 04/4/2022 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, truy tố các bị cáo Trần Thanh N và Đỗ Minh C, về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) như đã viện dẫn trong cáo trạng là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Các bị cáo Trần Thanh N và Đỗ Minh C là công dân có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình, nhưng với bản tính hung hăng côn đồ, xem thường pháp luật, cùng nhau cầm hung khí là dao tự tạo chém Nguyễn Hữu Phi, xâm hại tới sức khoẻ người khác một cách công khai. Hành vi của các bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến sức khỏe của công dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương, nên cần phải xử lý các bị cáo nghiêm khắc và đưa ra mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, nên cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định, nhằm giáo dục các bị cáo trở thành người tốt, công dân có ích cho xã hội, đồng thời qua đó nhằm giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Hành vi của các bị cáo thực hiện đã phạm vào tội: “Cố ý gây thương tích”, quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), có 02 tình tiết định khung đó là:“Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ” quy định tại các điểm a, điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

- Đối với bị cáo Trần Thanh N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trong giai đọan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn thể hiện sự ăn năn hối cải, đã nộp tiền bồi thường khắc phục một phần thiệt hại cho người bị hại và tại tòa hôm nay được người bị hại xin giảm nhẹ mức án, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Bị cáo khi phạm tội ở tuổi chưa thành niên (dưới 18 tuổi), nhận thức có phần hạn chế, áp dụng chính sách xử lý người chưa thành niên theo quy định tại Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Đối với bị cáo Đỗ Minh C có nhân thân không tốt, có 01 tiền án: ngày 26/11/2014 bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xử phạt 09 năm tù về tội “Giết người” tại Bản án số 31/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 29/9/2020 và có 03 tiền sự: ngày 03/6/2021 bị Công an thị trấn Phan Rí Cửa phạt số tiền 750.000 đồng tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0014245, do có hành vi đánh bà Lê Thị Kim Anh vào ngày 26/4/2021, đến nay chưa nộp phạt; ngày 12/8/2021 bị Công an thị trấn Phan Rí Cửa phạt số tiền 750.000 đồng tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0014242, do có hành vi đánh nhau tại nhà ông Hồ Văn Dương vào ngày 06/8/2021, đã nộp phạt và ngày 14/9/2021 bị Công an huyện T phạt số tiền 2.500.000 đồng tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0029720, do có hành vi dùng hung khí rượt đánh nhau với mục đích gây thương tích cho người khác vào ngày 11/02/2021. Bị cáo C đã bị kết án về tội đặc biệt nghiêm trọng do lỗi cố ý, chưa được xóa án tích lại phạm tội rất nghiêm trọng do lỗi cố ý, nên phải chịu tình tiết tăng tặng “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trong giai đọan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo C khai báo tương đối thành khẩn và đã nộp tiền bồi thường khắc phục toàn bộ thiệt hại cho người bị hại và tại phiên tòa hôm nay, được người bị hại xin giảm nhẹ mức án, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

Các bị cáo cùng thống nhất ý chí khi thực hiện hành vi phạm tội, nhưng hành vi của các bị cáo chỉ mang tính bộc phát, không có sự bàn bạc phân công trước, nên chỉ là đồng phạm giản đơn, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự chung đối với toàn bộ hành vi và hậu quả xảy ra.

Phần bồi thường dân sự: Nguyễn Hữu Phi đã chi phí điều trị vết thương theo chứng từ đơn thuốc hết số tiền 19.769.536 đồng. Trong giai đoạn điều tra Phi kê khai các chi phí khác yêu cầu bồi thường tổng cộng số tiền là 61.119.536 đồng, tại phiên tòa hôm nay người bị hại yêu cầu các bị cáo phải bồi thường toàn bộ chi phí điều trị thương tích và các khoản hợp lý khác với số tiền là 56.863.000 đồng (gồm: chi phí tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Thuận 16.759.251đ; chi phí tại Bệnh viện đa khoa bắc Bình Thuận 1.814.175đ; chi phí tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Bình Thuận 480.000đ; chi phí tại Bệnh viện An Phước 1.410.000đ; tiền xe đi lại 3.000.000đ; tiền tets covit19, 400.000đ; tiền ăn uống bồi dưỡng thêm và uống sửa khi nằm viện 3.000.000đ; tiền mất thu nhập (lao động biển) 500.000đ x 60 ngày=30.000.000đ) chia đều cho các bị cáo, mỗi bị cáo phải bồi thường 28.431.500 đồng. Đến nay Trần Thanh N đã bồi thường cho bị hại số tiền 9.000.000 đồng và nộp 3.000.000 đồng tại Thi hành án dân sự huyện T. Đỗ Minh C đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng và nộp 20.000.000 đồng tại Thi hành án dân sự huyện T. Tại phiên tòa người bị hại Nguyễn Hữu Phi đã xác nhận đã nhận 19.000.000 đồng và yêu cầu các bị cáo phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 37.863.000 đồng, (Các bị cáo đã nộp tại Thi hành án dân sự huyện T số tiền 23.000.000 đồng). Người bị hại không yêu cầu bồi thường về tổn thất tinh thần.

Đối với vật chứng của vụ án: không thu giữ được, nên không xem xét giải quyết.

Đối với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử như đã phân tích trên, nên được chấp nhận toàn bộ.

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo luật định

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58; Điều 91; khoản 1 Điều 101; khoản 1 Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)

- Tuyên bố: bị cáo Trần Thanh N, phạm tội “Cố ý gây thương tích”

- Xử phạt: bị cáo Trần Thanh N 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày bị bắt (28/12/2021).

2. Căn cứ vào: điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017)

- Tuyên bố: bị cáo Đỗ Minh C, phạm tội “Cố ý gây thương tích”

- Xử phạt: bị cáo Đỗ Minh C 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày bị bắt (05/01/2022).

3. Về phần bồi thường dân sự: áp dụng khoản 5 Điều 275, Điều 584, 586, 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP, ngày 08 tháng 7 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Công nhận sự thỏa thuận giữa bị hại và các bị cáo tại phiên tòa, theo đó:

- Bị cáo Trần Thanh N phải có trách nhiệm tiếp tục bồi thường chi phí điều trị thương tích và các khoản hợp lý khác cho bị hại Nguyễn Hữu Phi, với số tiền là 19.431.500 đồng (Mười chín triệu bốn trăm ba mươi mốt ngàn năm trăm đồng), tiếp tục tạm giữ số tiền 3.000.000đ của bị cáo đã nộp tại biên lai thu tiền số 0001563 ngày 16/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T để đảm bảo trong việc thi hành án.

Bị cáo N phải bồi thường bằng tài sản riêng của mình, nếu không đủ tài sản để bồi thường, thì cha mẹ bị cáo phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.

- Bị cáo Đỗ Minh C phải có trách nhiệm tiếp tục bồi thường chi phí điều trị thương tích và các khoản hợp lý khác cho bị hại Nguyễn Hữu Phi, với số tiền là 18.431.500 đồng (Mười tám triệu bốn trăm ba mươi mốt ngàn năm trăm đồng), tiếp tục tạm giữ số tiền 20.000.000đ của bị cáo đã nộp tại biên lai thu tiền số 0001562 ngày 16/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, để đảm bảo trong việc thi hành án.

Kể từ ngày bị hại Nguyễn Hữu Phi có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo N phải có trách nhiệm trả lãi của số tiền còn phải thi hành án theo qui định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.

4. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Thanh N phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 822.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bị cáo Đỗ Minh C phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo N và người bị hại, báo cho họ biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/5/2022). HỘI THẨM NHÂN DÂN

Cỡ chữ