- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Bá Nhật M tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng - chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Bá Nhật M phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2026/HS-ST Ngày 15 - 5 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quý.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Trường
Bà Trần Thị Bích Cúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trâm - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5 -Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Lâm Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2026, tại điểm cầu trung tâm Hội trường xét xử - Tòa án nhân dân Khu vực 5 - Quảng Trị và điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam số 1, Công an tỉnh Quảng Trị, Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Quảng Trị đã xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 45/2026/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 51/2026/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Lê Bá Nhật M; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 30 tháng 5 năm 1982 tại: Quảng Trị; nơi cư trú: số x, Quốc lộ y, khu phố Z, phường ĐH, tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: lao động tự do; con ông Lê Bá S, sinh năm 1945 và bà Lê Thị Ph, sinh năm 1954; vợ: Vũ Thị G (đã ly hôn); có 01 con, sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
+ Bản án số 38/2011/HSST ngày 17/5/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt bị cáo 05 tháng 26 ngày tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, (đã xóa án tích);
+ Bản án số 51/2014/HSST ngày 25/11/2014 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” (đã xóa án tích);
+ Bản án số 41/2019/HS-ST ngày 26/6/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xử phạt bị cáo 13 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, (đã xóa án tích);
+ Ngày 22/11/2010, bị cáo bị Công an huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã nộp phạt đủ ngày 17/12/2010.
+ Ngày 15/7/2023, bị cáo bị Công an huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã nộp phạt đủ ngày 27/07/2023.
Bị cáo đang bị bắt để tạm giam từ ngày 16/12/2025 cho đến nay tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh Quảng Trị - Có mặt tại phiên tòa.
- Nguyên đơn dân sự: ông Ngô Duy D, sinh năm 1975; địa chỉ: số x đường Quốc lộ y, Khu phố Z, phường ĐH, tỉnh Quảng Trị - vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Ngô Duy Đ, sinh năm 1978 và bà Trần Thị Th; địa chỉ: số X, đường Quốc lộ Y, Khu phố Z, phường ĐH, tỉnh Quảng Trị, có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 56 phút ngày 11/9/2025, Lê Bá Nhật M đi vào nhà ông Ngô Duy Đ tại khu phố 8, phường Đông Hà, tỉnh Quảng Trị để xin nước rửa chén. Khi vừa bước vào sân thì thấy bà Trần Thị Th (vợ của ông Đ) ở trong nhà, M liền nói vọng vào cho bà Th nghe việc xin nước rửa chén. Nghe vậy, bà Th đi lấy nước rửa chén cho M. Trong lúc bà Th đi lấy nước rửa chén, M đi từ sân nhà hướng về phía ông Đ (lúc này đang ngồi ăn uống với ông Ngô Duy D), nhưng do vướng bàn ăn nên M chuyển hướng đi về phía sau lưng ông D đang ngồi với mục đích lấy nước rửa chén từ chị Th. Lúc này, M và ông D xảy ra mâu thuẫn, lời qua tiếng lại. Ông D vì đề phòng M vốn là người nghiện ma túy nên quay người nhìn theo M, đồng thời dùng tay trái cầm vào tay phải của M. M phát hiện gần vị trí ông D ngồi có 01 con dao nên dùng tay phải chụp lấy con dao, cầm lên rồi vung đâm, chém liên tiếp nhiều nhát vào người ông D gây thương tích ở vùng cánh tay phải, ngực trái và lưng trái. Do bị tấn công liên tục, ông D đã chống đỡ và xô ngã được M vào góc sân nhà sát bàn đang ngồi, rồi cùng ông Đ khống chế và tước con dao trên tay M. Sau đó, M bỏ về nhà, còn ông D được đưa đi cấp cứu, điều trị vết thương.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 103/KLTTCT-TTPY ngày 14/10/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Trị xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông D tại thời điểm giám định là 03%.
Kết luận giám định số 1262/KL-KTHS ngày 23/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị xác định mẫu vật gửi giám định là dao sắc, nhọn, thuộc phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” ban hành kèm theo Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ Công an. Căn cứ quy định tại điểm d, khoản 2 và khoản 6 Điều 2 Luật Quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/06/2024 thì con dao nói trên được xác định là vũ khí quân dụng.
Kết luận giám định số 129/2026/KL-KTHS ngày 31/01/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị xác định File video có tên “File1.mp4, dung lượng 34,1Mb, mã MD5: 3424A375422FFDFBD36473E7DDE61AB4 (video thu giữ tại nhà ông Ngô Duy Điển ghi hình lại diễn biến sự việc giữa ông Duyệt và Minh): Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong mẫu cần giám định.
Đối với hành vi gây thương tích, ông Ngô Duy D có đơn yêu cầu không khởi tố đối với bị cáo.
Cáo trạng số: 500/CT-VKSQTI-P1 ngày 06 tháng 4 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Lê Bá Nhật M về tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”, theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 5, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Lê Bá Nhật M phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 304; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 xử phạt bị cáo Lê Bá Nhật M: 18 – 21 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao thu giữ của ông Ngô Duy Đ, bà Trần Thị Th.
- Về bồi thường thiệt hại: bị cáo đã bồi thường cho ông Ngô Duy D đầy đủ, ông Duyệt không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
- Về án phí: bị cáo Lê Bá Nhật M phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến gì về lời luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: ngày 11/9/2025, Lê Bá Nhật M đi vào nhà ông Ngô Duy Đ tại khu phố 8, phường Đông Hà, tỉnh Quảng Trị để xin nước rửa chén. Tại đây, bị cáo đã xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau với ông Ngô Duy D (là em trai của ông Đ đang ngồi ăn uống với ông Đ). Trong lúc ông D giữ tay của bị cáo, bị cáo đã vòng qua phía sau lấy 01 cây dao dài 30,5cm, phần cán làm bằng gỗ có kích thước (3x12) cm, phần lưỡi dao bằng kim loại có kích thước (5x18,5) cm đang để tại bàn cầm lên tay rồi đâm, chém liên tiếp nhiều nhát vào người ông D gây thương tích ở vùng cánh tay phải, ngực trái và lưng trái, với tỷ lệ thương tích theo kết luận của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Trị là 03%. Tại Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị: Cây dao bị cáo sử dụng gây thương tích là dao sắc, nhọn, thuộc phụ lục 5 “Danh mục dao có tính sát thương cao” ban hành kèm theo Thông tư 75/2024/TT-BCA ngày 15/11/2024 của Bộ trưởng Bộ Công an. Căn cứ quy định tại điểm d, khoản 2 và khoản 6 Điều 2 Luật Quản lý sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ số 42/2024/QH15 ngày 29/06/2024 con dao được xác định là vũ khí quân dụng.
Trên cơ sở lời nhận tội của bị cáo, lời khai của nguyên đơn dân sự và những tài liệu, chứng cứ khác có căn cứ xác định hành vi dùng dao có tính sát thương cao gây thương tích cho người khác của bị cáo đã cấu thành tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật hình sự. Điều luật có khung hình phạt từ 01 năm đến 07 năm tù. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, quản lý của nhà nước về vũ khí quân dụng, nên cần xử lý nghiêm đối với bị cáo.
Đối với hành vi cố ý gây thương tích cho ông D với tỷ lệ thương tích 03% của bị cáo: do ông Ngô Duy D có đơn yêu cầu không khởi tố vụ án, nên theo quy định tại Điều 155 của Bộ luật tố tụng hình sự, cơ quan điều tra đã không xử lý trách nhiệm hình sự của bị cáo mà chuyển hồ sơ cho cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính là đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có;
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi gây thương tích đã bồi thường đầy đủ cho ông Ngô Duy D, ông D đã yêu cầu không khởi tố hình sự đối với hành vi gây thương tích của bị cáo, đồng thời ông D xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hậu quả gây thương tích cho ông D không lớn, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị Tòa án xét xử và nhiều lần bị các cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo trở thành người có ích cho xã hội mà tiếp tục phạm tội, do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để răn đe bị cáo, đồng thời phòng ngừa chung. Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm báo thi hành án.
Về bồi thường thiệt hại: quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường đầy đủ cho ông Ngô Duy D, ông D không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra đã thu giữ 01 con dao của ông Ngô Duy Đ, bà Trần Thị Th. Hội đồng xét xử xét thấy ông Đ, bà Th không yêu cầu nhận lại tài sản và con dao có giá trị sử dụng không lớn nên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo Lê Bá Nhật M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 304, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025; điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Bá Nhật M phạm tội “Sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”;
2. Xử phạt bị cáo Lê Bá Nhật M: 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam: 16/12/2025.
3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 30,5cm, phần cán làm bằng gỗ có kích thước (3x12) cm, phần lưỡi dao bằng kim loại có kích thước (5x18.5) cm được niêm phong trong hộp giấy, ký hiệu DM, bên ngoài có dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có in hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Quảng Trị cùng chữ viết, chữ ký ghi họ tên của những người tham gia niêm phong (Kèm theo Kết luận giám định số 1262/KL-KTHS ngày 23/9/2025; Biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định ngày 24/9/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Quảng Trị) theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2026 của Phòng thi hành án dân sự Khu vực 5 – Quảng Trị.
4. Về án phí: buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND KV 5; - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - Công an tỉnh Quảng Trị; - Phòng THADS KV5; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quý |