vanban.org

Bản án 59/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/02/2026. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2026/HS-ST
Ngày: 29-5-2026.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

T A ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Bá Hiệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ma Văn Tiêu.

Bà Dương Thị Thuý Quỳnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Bích Ngọc – Thư ký của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lâm Văn Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 5 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 54/2026/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2026/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ; Tên gọi khác: không; sinh ngày: 13 tháng 01 năm 1998; nơi sinh: Xã V, tỉnh Lạng Sơn; nơi cư trú: Thôn L, xã V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1958 (đã chết); con bà: Dương Thị L, sinh năm 1960; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị kết án, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/02/2026, tạm giam từ ngày 15/02/2026 đến nay tại Phân trại tạm giam Bình Gia. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Chị Nguyễn Thúy H, sinh năm 2003, nơi cư trú: Thôn L, xã V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

+ Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1983, nơi cư trú: Thôn L, xã V, tỉnh Lạng Sơn. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1998, trú tại thôn L, xã V, tỉnh Lạng Sơn bắt đầu sử dụng chất ma túy Heroin từ đầu năm 2025 bằng hình thức hít. Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 11/02/2026, Nguyễn Văn Đ một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen - đỏ, biển số 12S1-190.71 từ nhà tại thôn L, xã V, tỉnh Lạng Sơn đến khu vực Nhà máy X, thuộc xã L, tỉnh Thái Nguyên tìm mua ma túy H1 về sử dụng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Văn Đ gặp một người đàn ông không rõ họ tên, địa chỉ, khoảng 40 đến 45 tuổi, dáng người cao, gầy, do trời tối nên không nhớ đặc điểm khuôn mặt. Nguyễn Văn Đ hỏi mua ma túy thì người đàn ông đồng ý bán. Nguyễn Văn Đá đưa cho người đàn ông này số tiền 500.000 đồng, người đàn ông đưa cho Nguyễn Văn Đ 01 gói giấy bên trong có chứa chất bột màu trắng là ma túy Heroin. Nguyễn Văn Đ cầm gói ma túy bằng tay trái rồi điều khiển xe mô tô về nhà và lấy gói ma túy ra sử dụng bằng hình thức hít, hết khoảng 4/5 số ma túy. Số ma tuý còn lại Nguyễn Văn Đ gói lại cất vào túi quần đùi đằng trước bên phải đang mặc rồi đi ngủ.

Đến 12 giờ 20 phút ngày 12/02/2026, Nguyễn Văn Đ đang đi bộ ra khu vực vắng vẻ gần nhà để sử dụng số ma túy còn lại thì bị tổ công tác Công an xã V phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh L tuần tra kiểm soát tại địa bàn thôn Làng Dọc, xã V phát hiện bắt quả tang. Tổ công tác thu giữ 01 gói giấy nhỏ màu trắng, bên trong có 01 gói giấy bạc nhỏ chứa chất bột màu trắng Nguyễn Văn Đ đang cất giấu trong túi quần đùi phía trước bên phải mặc trên người.

Sau khi bắt quả tang, Công an xã V tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Nguyễn Văn Đ và thu mẫu nước tiểu để trưng cầu giám định. Kết quả xét nghiệm, Nguyễn Văn Đ dương tính với chất ma túy Heroin. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn Đ tại thôn L, xã V, tỉnh Lạng Sơn, quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu liên quan.

Tại bản Kết luận giám định số 237/KL-KTHS ngày 14/02/2026 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Chất bột màu trắng có trong 01 gói giấy bạc gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,125 gam (đã trừ bì).

Tại bản Kết luận giám định số 241/KL-KTHS ngày 16/02/2026 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn Đ gửi giám định tìm thấy chất ma túy Morphine; tìm thấy chất 6-MAM (6-monoacetylmorphine) là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy Heroin.

Về vật chứng của vụ án: 01 phong bì ghi chữ "Tang vật thu giữ trong túi quần đằng trước bên phải của Nguyễn Văn Đ (nghi là ma túy Heroine)" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh Thái, trợ lý giám định, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật Hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 01 gói giấy đựng 0,104 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và vỏ bao gói (vật dụng) đựng mẫu vật (cũ).

Với hành vi như trên tại bản Cáo trạng số 74/CT-VKSKV3, ngày 15/5/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 tuyên bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 09 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong có 01 gói giấy đựng 0,104 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và vỏ bao gói (vật dụng) đựng mẫu vật (cũ). Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phần tranh luận, bị cáo nhất trí với ý kiến của Kiểm sát viên không có ý kiến tranh luận gì và tại lời nói sau cùng chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ đều khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân như bản Cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội, cụ thể: Do nghiện chất ma tuý, nên khoảng 19 giờ 00 phút ngày 11/02/2026, Nguyễn Văn Đ một mình điều khiển xe mô tô đến khu vực Nhà máy X, thuộc xã L, tỉnh Thái Nguyên tìm mua ma túy Heroin về sử dụng. Tại đây Nguyễn Văn Đ đã mua với một người đàn ông không quen biết 01 gói ma tuý với giá 500.000 đồng, khi về nhà thì lấy gói ma túy ra sử dụng bằng hình thức hít, hết khoảng 4/5 số ma túy. Số ma tuý còn lại Nguyễn Văn Đ gói lại cất vào túi quần đùi đằng trước bên phải đang mặc rồi đi ngủ. Đến 12 giờ 20 phút ngày 12/02/2026, Nguyễn Văn Đ đang đi bộ ra khu vực vắng vẻ gần nhà để sử dụng số ma túy còn lại thì bị bắt giữ người cùng vật chứng. Theo kết luận giám định thì “Chất bột màu trắng có trong 01 gói giấy bạc thu giữ của Nguyễn Văn Đ gửi giám định là chất ma túy Heroin, có khối lượng 0,125 gam (đã trừ bì). Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lạng Sơn đã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, vi phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy. Hơn nữa ma túy là chất gây nghiện cao, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, nòi giống con người, gây thiệt hại về kinh tế và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác trong xã hội. Do đó, đối với bị cáo cần phải có mức án nghiêm khắc mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, nhưng bị cáo là đối tượng nghiệnn ma tuý nên không được coi là nhân thân tốt.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra gia đình bị cáo thờ cúng liệt sĩ Nguyễn Văn N1 (Nguyễn Văn N2) là cụ nội của bị cáo; bị cáo là dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã phân tích ở trên xét thấy cần phải cách ly bị cáo khởi đời sống xã hội một thời gian như đại diện Viện kiểm sát đề nghị mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật và răn đe, phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý có việc làm nhưng thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng và sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn.

Vật chứng của vụ án là 01 phong bì bên trong có 01 gói giấy đựng 0,104 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; vỏ bao gói (vật dụng) đựng mẫu vật (cũ) không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.

Nguyễn Văn Đ2 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 11/02/2026, nhưng Nguyễn Văn Đ không tham gia điều trị các chất ma túy bằng thuốc thay thế, không trong thời hạn cai nghiện bắt buộc, không trong thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy nên không có căn cứ xử lý về tội Sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự. Cơ quan điều tra đã chuyển tài liệu liên quan đến Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Lạng Sơn để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định, nên không xem xét xử lý trong vụ án này.

Đối với xe mô tô tô nhãn hiệu Honda Vision màu đen - đỏ, biển số 12S1-190.71 để đi mua ma túy. Đây là tài sản của Nguyễn Thúy H, sinh năm 2003, trú tại thôn L, xã V, tỉnh Lạng Sơn là cháu của Nguyễn Văn Đ. Nguyễn Thúy H đi làm xa nhà nên để chiếc xe cho mẹ đẻ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1983, trú tại thôn L, xã V, tỉnh Lạng Sơn (là chị gái của Nguyễn Văn Đ) quản lý và sử dụng. Nguyễn Văn Đ mượn xe mô tô đi mua ma tuý nhưng Nguyễn Thị N không biết và tài sản cũng đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên không xem xét xử lý.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn Đ, do không có đủ thông tin nên không thể điều tra xác minh để xử lý nên không xem xét trong vụ án này.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biết khó khăn và đã có đơn xin miễn án phí, vì vậy bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/02/2026.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi chữ "Tang vật thu giữ trong túi quần đằng trước bên phải của Nguyễn Văn Đ (nghi là ma túy Heroine)" (cũ), có chữ ký cùng tên của giám định viên Bùi Anh Thái, trợ lý giám định, đại diện cơ quan trưng cầu và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự tại phần giáp lai mới. Bên trong có: 01 gói giấy đựng 0,104 gam Heroin (phần hao hụt do dùng làm mẫu giám định hết) và vỏ bao gói (vật dụng) đựng mẫu vật (cũ).

(Các vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 – Lạng Sơn, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/5/2026 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L và Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 – Lạng Sơn).

4. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Đ được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ