- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị T yêu cầu ly hôn với a D"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐẮK LẮK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2026/HNGĐ-ST Ngày: 24/8/2026 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - ĐẮK LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hoa Lý.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Y Ly Mlô;
2. Bà H Moan Mlô.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đăk Lăk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thuỷ – Kiểm sát viên.
Ngày 24/8/2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Đắk Lắk, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 183/2026/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2026 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/7/2026 và Quyết định hoãn phiên toà số 48/2026/QĐST-HNGĐ ngày 05/8/2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Võ Thị T, sinh năm 1982. Có mặt.
Địa chỉ: Thôn V, xã C, tỉnh Hà Tĩnh.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh D, sinh năm 1980. Vắng mặt.
Địa chỉ: Buôn D, phường C, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị T trình bày: Chị Võ Thị T và anh Nguyễn Minh D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 15/11/2013. Thời gian vài năm đầu cuộc sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Từ năm 2016 giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm trong cách sống. Năm 2019 thì chị T và anh D đã ly thân cho đến nay. Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh D.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị T và anh D có 02 con chung là Nguyễn Thị Phương Nh (sinh ngày 23/6/2014) và Nguyễn Thị Phương N (Sinh ngày 10/5/2018). Chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung cho đến tuổi trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con, chị T không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập bị đơn anh Nguyễn Minh D nhưng anh D vắng mặt không có lý do; vì vậy không thể ghi nhận ý kiến trình bày của anh D.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Đắk Lắk phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự; Đối với bị đơn anh Nguyễn Minh D vắng mặt tại phiên toà không có lý do nên đề nghị HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án, chị T và anh D tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau theo quy định của pháp luật. Quá trình chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn; xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị T ly hôn với anh D. Về con chung: Đề nghị HĐXX chấp nhận giao 02 con chung Nguyễn Thị Phương Nh (sinh ngày 23/6/2014) và Nguyễn Thị Phương N (Sinh ngày 10/5/2018) cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con chung, chị T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra giải quyết.
Về án phí: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào lời trình bày của các bên đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Minh D đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa xét xử vắng mặt bị đơn.
- Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh D tự nguyện kết hôn với nhau tại UBND xã A, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk nay là phường C, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 15/11/2013. Vợ chồng sống hạnh phúc một thời gian thì dần phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng ý kiến, quan điểm sống; hiện cả hai đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh D đã đến mức trầm trọng, không thể hoà giải, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T và anh D, cho chị T và anh D được ly hôn với anh D để tạo điều kiện cho cả hai có một cuộc sống riêng là phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 54, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Quá trình chung sống chị T và anh D có 02 con chung tên Nguyễn Thị Phương Nh (sinh ngày 23/6/2014) và Nguyễn Thị Phương N (Sinh ngày 10/5/2018). Xét nguyện vọng của các cháu muốn được ở với chị T; hiện các cháu đã ở với chị T từ năm 2019 cho đến nay. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy để tránh những thay đổi trong cuộc sống, sinh hoạt của các cháu, cần giao cháu N và cháu Nhi cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
Anh D được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở; vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về tài sản và công nợ chung: Các bên không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Toà án không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 51, Điều 54, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/UBTVQH 12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Võ Thị T.
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Minh D.
- Về con chung: Giao 02 con chung tên Nguyễn Thị Phương Nh (sinh ngày 23/6/2014) và Nguyễn Thị Phương N (Sinh ngày 10/5/2018) cho chị Võ Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Võ Thị T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết.
Anh Nguyễn Minh D được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở; vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
- Về tài sản và công nợ chung: Chị Võ Thị T không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Chị Võ Thị T phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0006498 ngày 08/6/2026 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8 - Đắk Lắk.
Báo cho nguyên đơn có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo luật định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Lăk; - VKSND khu vực 8 - Đắk Lắk; - Phòng THADS khu vực 8 - Đắk Lắk; - UBND phường Cư Bao; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, Vp. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SỞ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Thị Hoa Lý |