- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị H xin ly hôn anh H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2026/HNGĐ-ST Ngày: 12/6/2026 V/v:“Ly hôn, tranh chấp nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7-THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Hồng Kiên
2. Bà Nguyễn Thị Tường Vân
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Văn Hùng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 – Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2026/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2026 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1022/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Chu Thị H; Sinh năm: 1982
HKTT và địa chỉ hiện nay: Thôn Q, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx
Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H; Sinh năm: 1994
HKTT và địa chỉ hiện nay: Thôn Q, xã T, tỉnh Thanh Hóa.
Số CCCD: xxxxxxxxxxxx
Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai cũng trong quá trình giải quyết vụ án, chị Chu Thị H trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 06/9/2016 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V (nay là xã T), tỉnh Thanh Hóa. Sau ngày cưới, vợ chồng hòa thuận đến năm 2023 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên sảy ra cãi cọ, cuộc sống không hạnh phúc. Chị và anh H đã sống ly thân từ đầu năm 2026 đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H. WZA120626.TL.QDBA.558
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Đức A, sinh ngày 13/11/2015, hiện nay cháu đang ở với anh H. Ly hôn, chị yêu cầu giao con cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H mỗi tháng 2.000.000đ (Hai triệu đồng) cho đến khi cháu Nguyễn Đức A đủ 18 tuổi.
Về tài sản và công nợ: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 08/5/2026, anh Nguyễn Văn H trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Chu Thị H có đăng ký kết hôn như chị H trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận bình thường nhưng đến đầu năm 2026 thì chị H tự ý bỏ nhà đi, không nói với ai. Nay chị H làm đơn ly hôn với anh, anh không đồng ý ly hôn. Nếu chị H nhất quyết yêu cầu ly hôn, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung như chị H trình bày. Nếu ly hôn, anh đề nghị được trực tiếp nuôi con và đồng ý mức cấp dưỡng mà chị H đề nghị là 2.000.000đ (Hai triệu đồng)/tháng cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ pháp luật và tư cách tố tụng của các đương sự trong vụ án. Từ giai đoạn thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cũng như các thành viên của Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là HĐXX) và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (Sau đây viết tắt là BLTTDS). Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS.
Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân gia đình. Về hôn nhân: Xử cho chị Chu Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H; Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày 13/11/2015 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H mỗi tháng số tiền là 2.000.000đ (Hai triệu đồng) cho đến khi cháu Nguyễn Đức A đủ 18 tuổi.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
. Chị Chu Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về ly hôn với anh Nguyễn Văn H, anh H cư trú tại xã T, tỉnh Thanh Hóa nên xác định đây là vụ án ly hôn, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 7- Thanh Hóa, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Trong vụ án có con chưa thành niên nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng nhưng VKS được biết.
. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ cho các bên đương sự, nhưng anh H vắng mặt nên Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai WZA120626.TL.QDBA.558 chứng cứ vắng mặt anh H và đã thông báo kết quả kiểm phiên họp cho anh H theo khoản 3 Điều 210 BLTTDS.
. Chị H có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 BLTTDS.
. Tại phiên tòa, chị H và anh H vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt chị H và anh H.
. Về hôn nhân: Chị Chu Thị H và anh Nguyễn Văn H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 06/09/2016 tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V (nay là xã T), tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày cưới, vợ chồng hòa thuận đến năm 2023 thì mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, không có tiếng nói chung nên hay sảy ra bất đồng, cuộc sống không hạnh phúc. Chị H và anh H đã sống ly thân từ đầu năm 2026 đến nay, không còn quan tâm gì đến nhau nữa. Việc này đã được các cấp chính quyền xã T xác nhận và cũng phù hợp với nội dung mà Tòa án đã tiến hánh xác minh tại địa phương. Mặc dù anh H mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng chị H nhất quyết yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H. HĐXX nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Chu Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
. Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung. Hiện nay cháu Nguyễn Đức A đang do anh H trực tiếp nuôi dưỡng. Cả chị H và anh H đều yêu cầu giao con cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, bản thân cháu cũng có nguyện vọng được ở với bố. Do đó, nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị H và anh H.
. Về tài sản: Chị H và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
. Về án phí: Chị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm a, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Chu Thị H.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Chu Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Đức A, sinh ngày 13/11/2015 cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị H cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H mỗi tháng là 2.000.000đ (Hai triệu đồng) cho đến khi cháu Nguyễn Đức A đủ 18 tuổi hoặc đến khi các bên có yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng khác.
Khoản tiền cấp dưỡng được thi hành ngay mặc dù bản có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Chị H có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Chu Thị H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc cấp dưỡng nuôi con nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã WZA120626.TL.QDBA.558 nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 - Thanh Hóa theo biên lai số BLTU/26E/0002250, ngày 26/3/2026. Chị H còn phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Chu Thị H và anh Nguyễn Văn H. Chị H và anh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND khu vực 7 - Thanh Hóa; - THADS tỉnh Thanh Hóa; - UBND xã T; - Các đương sự; - Lưu HSVA. WZA120626.TL.QDBA.558 | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Cúc |