- Tranh chấp gì? án hình sự — "VŨ THỊ KIM T - Phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Kim T phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2025/HSST Ngày 26/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lài
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Lệ Hằng
- Ông Nguyễn Văn Vỹ
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Bích Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân quận H, Thành phố H.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận H, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025; Đối với bị cáo:
Vũ Thị Kim T, sinh năm 1966; HKTT: Số A3-A1 T, phường T, quận H, thành phố H; Chỗ ở hiện nay: Số 40 A4 T, phường T, quận H, thành phố H; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Con ông: Vũ Duy L, sinh năm 1935 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị H, sinh năm 1935 (đã chết); Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 4; Có chồng là: Lương Ngọc C, sinh năm 1962; Có 01 con, sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không; Danh chỉ bản số 152 do Công an quận H, Thành phố H lập ngày 20/02/2025;
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố H truy tố:
Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 20/12/2024, tại vỉa hè đầu ngõ 43 L, phường T1, quận H, thành phố H. Tổ công tác Công an phường T1, quận H, thành phố H bắt quả tang đối với Vũ Thị Kim T đang có hành vi bán số lô, số đề (ghi số lô, số đề) cho Kim Thị L (sinh năm 1956, HKTT: Số 2, ngõ 150/26/43 T2, phường V, quận H, thành phố H) với số tiền 930.000 đồng. Công an phường đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Sau đó đưa các đối tượng về trụ sở Công an làm rõ.
Quá trình điều tra Vũ Thị Kim T khai nhận:
Hình thức chơi: Việc T bán số lô, đề cho khách với tỉ lệ ăn thua so với kết quả xổ số miền Bắc như sau:
+ Nếu khách mua số đề mà có số trùng với hai số cuối của giải đặc biệt là thắng và T trả cho khách với tỉ lệ: Nếu khách đánh 1000đ, T ghi cho khách thành 1.100đ, khách thắng trả cho khách 77.000đ.
+ Nếu khách mua lô mà có số trùng với hai số cuối của 27 giải của xổ số miền Bắc là thắng, T phải trả cho khách với tỉ lệ: 01 điểm lô thu của khách 22.500đ, nếu khách thắng sẽ phải trả cho khách 80.000đ.
+ Lô xiên 2, khách sẽ đánh hai cặp số (mỗi cặp số gồm 2 chữ số), hai cặp số này khách trúng trong trường hợp cả hai cặp số phải trùng với hai số cuối của bất kỳ giải nào của 27 giải sẽ thắng. Khách đánh 10.000đ thì T ghi cho khách 12.000đ mà trúng sẽ phải trả cho khách 120.000đ.
+ Lô xiên 3, khách sẽ đánh ba cặp số (mỗi cặp số gồm 2 chữ số), ba cặp số này khách trúng trong trường hợp ba cặp số phải trùng với hai số cuối của bất kỳ giải nào của 27 giải sẽ thắng. Khách đánh 10.000đ thì ghi cho khách 12.000đ mà trúng T sẽ phải trả cho khách 480.000đ.
+ Lô xiên 4, khách sẽ đánh 4 cặp số (mỗi cặp gồm 2 chữ số), bốn cặp số này khách trúng trong trường hợp bốn cặp số phải trùng với hai số cuối của bất kỳ giải nào của 27 giải sẽ thắng. Khách đánh 10.000đ T ghi cho khách thành 12.000đ mà trúng thì sẽ phải trả cho khách thành 1.200.000đ.
Khách thua thì T được toàn bộ số tiền khách đặt cược mua lô đề của T, T không chuyển cho ai mà giữ lại tính thắng thua với khách.
Khi khách mua số lô, đề T ghi và đưa cho khách 01 tờ tích kê trong đó có ghi số lô, đề khách đánh, đồng thời ghi riêng vào một tờ giấy các số lô, đề đã bán cho khách để đối chiếu khi khách trúng số.
Vũ Thị Kim T bắt đầu mở bán số lô đề cho khách từ ngày 15/12/2024 tại vỉa hè đầu ngõ 43 L, phường T1, quận H, thành phố H. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 20/12/2024, T bắt đầu bán số lô, đề cho khách. Đến 17 giờ 50 phút cùng ngày thì chị Kim Thị L đến hỏi mua số lô, số đề. Khi T vừa bán số lô, số đề cho Kim Thị L bao gồm: Số lô 353, 161 bằng 5 điểm hiểu là (35, 53, 16, 61) mỗi con 5 điểm (1 điểm lô 22.500đ); Số đề: 161, 565, 151 bằng 22.000 đồng, hiểu là (16, 61, 56, 65, 15, 51) mỗi con 22.000đ (số tiền thực thu là 20.000đ). Đề bộ số 51 (gồm 08 số: 15, 51, 56, 65, 06, 60, 01, 10) và đề bộ số 57 (gồm 08 số: 57, 75, 25, 52, 07, 70, 02, 20) mỗi con đều 11.000đ; Đề đầu 6 và đề đít 6 mỗi con bằng 11.000đ (thực thu 10.000đ). Tổng số tiền đánh bạc của Liên là: 978.000đ; Tổng số tiền T thu của L là: 930.000đ.
Ngoài ra trong ngày 20/12/2024 T còn bán số lô, đề cho những khách hàng không quen biết với tổng số tiền là 13.191.000 đồng (số tiền T thực thu của khách là 12.870.000 đồng)
Vật chứng của vụ án đã thu giữ khi bắt quả tang gồm:
- Thu giữ của Vũ Thị Kim T: 01 bảng số lô đề ngày 20/12/2024 kích thước 18x27cm, 10 tờ tích kê không có nội dung gì, 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xám số IMEI 356356086342983, số tiền 11.230.000 đồng.
- Thu giữ của Kim Thị L: 01 tờ giấy kích thước 7x10cm có ghi số lô, đề.
Ngày 21/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra khám xét khẩn cấp nơi ở của Vũ Thị Kim T tại địa chỉ số 40 A4 T, phường T, quận H, thành phố H nhưng không phát hiện và thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.
Căn cứ tài liệu, bảng tích kê ghi số lô đề đã thu giữ và lời khai nhận của T, xác định tổng số tiền đánh bạc bằng hình thức bán lô, đề cho khách của T ngày 20/12/2024 là 14.169.000 đồng (trong đó 978.000 đồng là của Liên). Số tiền thực thu là 13.800.000 đồng. Bắt quả tang thu giữ của T còn lại 11.230.000 đồng (do T đã trả cho khách trúng ngày trước đó là 2.570.000đ).
Kết luận giám định số 1433/KL-KTHS ngày 24/02/2025 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an: Chữ viết, chữ số trên các mẫu cần giám định ký hiệu A1, A2 so với chữ viết, chữ số đứng tên Vũ Thị Kim T trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 là chữ do cùng một người viết ra.
Đối với chiếc điện thoại hiệu Samsung thu giữ của T, quá trình điều tra xác định T không sử dụng điện thoại liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định số 6121/QĐ-ĐTTH ngày 04/01/2025 để trao trả cho T chiếc điện thoại di động.
Đối với số tiền 11.230.000 đồng thu giữ của Vũ Thị Kim T ngày 20/12/2024, T khai nhận là do T bán số lô, số đề mà có. Hiện đang được nộp tại tài khoản 394901048098 Chi cục Thi hành án dân sự quận H.
Đối với hành vi bán số lô, số đề cho khách của Vũ Thị Kim T vào các ngày trước khi bị bắt quả tang, quá trình điều tra, ngoài lời khai của Liên, hiện không có tài liệu khác để xác định số tiền đánh bạc trong các ngày trước đó nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với đối tượng Kim Thị L, số tiền sử dụng để đánh bạc (ghi số lô, số đề) là 930.000 đồng. Qúa trình xác minh nhân thân, L chưa có tiền án, tiền sự, nên chưa đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, Công an quận H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Kim Thị L về hành vi Đánh bạc theo khoản 1 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021, mức tiền phạt: 350.000 đồng
Tại bản cáo trạng số 62/CT-VKS-HM, ngày 05/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố H truy tố bị cáo Vũ Thị Kim T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
[2] Tại phiên tòa: Bị cáo Vũ Thị Kim T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân quận H, Thành phố H truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Vũ Thị Kim T như bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hồi đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47; Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Thị Kim T mức hình phạt từ 06 tháng tù đến 10 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 20 tháng. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước đối với số tiền 11.230.000 đồng thu giữ của Vũ Thị Kim T do ghi lô đề mà có.
- Tịch thu đối với 01 bảng số lô đề ngày 20/12/2024 kích thước 18x27cm; 10 tờ tích kê không có nội dung gì thu giữ của T và 01 tờ giấy kích thước 7x10 cm có ghi lô đề thu giữ của Liên để lưu giữ trong hồ sơ làm chứng cứ của vụ án.
- Buộc đối tượng Vũ Thị Kim T phải truy nộp số tiền 2.570.000 đồng do T đã trả cho khách trúng ngày trước đó.
[3] Phần tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận Kiểm sát viên luận tội đối với hành vi phạm tội của mình là đúng người đúng tội, đúng pháp luật, nên không có tranh luận với Kiểm sát viên.
[4] Lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử cho bị cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Xét về hành vi vi phạm bị truy tố:
Tại phiên tòa bị cáo Vũ Thị Kim T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung cáo trạng đã nêu. Xét lời khai của bị cáo thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, cũng như tại biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định; lời khai của người làm chứng, vật chứng thu được của vụ án, cùng các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 20/12/2024, tại vỉa hè đầu ngõ 43 L, phường T, quận H, thành phố H, Vũ Thị Kim T đang ghi số đề và lô cho khách chơi là Kim Thị L thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng. Qúa trình điều tra xác định được tổng số tiền đánh bạc trong ngày 20/12/2024 của Vũ Thị Kim T là 14.169.000đ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất ổn định tình hình trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến việc gia tăng các tệ nạn khác. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo Vũ Thị Kim T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố H truy tố bị cáo về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.
. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng TNHS.
Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Bị cáo Vũ Thị Kim T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Ngoài ra, gia đình của bị cáo có công với cách mạng nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
. Về quyết định hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ TNHS và nhân thân của bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo. Xét thấy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, cho bị cáo được hưởng án treo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H cũng đủ tác dụng giáo dục, răn de bị cáo nói riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương theo dõi, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo Vũ Thị Kim T không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng
- Đối với số tiền 11.230.000đ thu giữ của bị cáo Vũ Thị Kim T, Hội đồng xét xử xét thấy đây là số tiền bị cáo T dùng để đánh bạc, nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung màu xám IMEI 356356086342983 thu giữ của bị cáo Vũ Thị Kim T, quá trình điều tra xác định bị cáo T không sử dụng điện thoại liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng và trao trả cho Vũ Thị Kim T chiếc điện thoại trên là có căn cứ, Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 bảng số lô đề ngày 20/12/2024 kích thước 18x27cm; 10 tờ tích kê không có nội dung gì thu giữ của Vũ Thị Kim T và 01 tờ giấy kích thước 7x10cm có ghi số lô đề thu giữ của Kim Thị L tịch thu để lưu giữ trong hồ sơ làm chứng cứ vụ án.
- Buộc bị cáo Vũ Thị Kim T phải truy nộp số tiền 2.570.000 đồng do phạm tội mà có để sung Ngân sách nhà nước.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Căn cứ vào Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Vũ Thị Kim T phạm tội “Đánh bạc”.
2. Xử phạt bị cáo Vũ Thị Kim T 07 (Bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 14 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Vũ Thị Kim T cho Uỷ ban nhân dân phường T, quận H, thành phố H để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách án treo.
Trong trường hợp bị cáo Vũ Thị Kim T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Vũ Thị Kim T.
4. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu sung Ngân sách nhà nước số tiền 11.230.000 đồng thu giữ của bị cáo Vũ Thị Kim T (Đã chuyển Chi cục thi hành án dân sự quận H tại giấy nộp tiền số No 11067190 ngày 25/12/2024 giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự quận H).
- Lưu giữ trong hồ sơ làm chứng cứ vụ án đối với 01 bảng số lô đề ngày 20/12/2024 kích thước 18x27cm; 10 tờ tích kê không có nội dung gì thu giữ của Vũ Thị Kim T và 01 tờ giấy kích thước 7x10cm có ghi số lô đề thu giữ của Kim Thị L.
- Buộc bị cáo Vũ Thị Kim T phải truy nộp số tiền 2.570.000 đồng để sung Ngân sách nhà nước.
5. Về án phí: Bị cáo Vũ Thị Kim T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Vũ Thị Kim T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - VKSND quận H; - Chi cục thi hành án dân sự quận H; - Tòa án NDTP. H; - Viện KS NDTP. H; - UBND phường T, quận H, Thành phố H; - Lưu hồ sơ, VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Lài |