vanban.org

Bản án 59/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Đông Hà, tỉnh Quảng Trị Tuyên án 25/04/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Hoàng Hải D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Hoàng Hải D: 19 (Mười chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 38 (Ba mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án s… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HOÀNG HẢI DUY - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hoàng Hải D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ
TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HS-ST
Ngày 25 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Vũ Xuân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Lượng;

Ông Phùng Hải Thủy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Lê Thùy Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:

Hoàng Hải D, sinh năm 1991, tại Quảng Trị; nơi cư trú: Khu phố A, phường B, thành phố C, tỉnh D; nghề nghiệp: Thợ điện; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Kim C, sinh năm 1963; con bà Nguyễn Thị L; sinh năm 1965; gia đình có 05 người con, bị cáo là con thứ hai; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn“Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt.

Bị hại: Anh Lê Hữu P, sinh ngày 22/12/2007; địa chỉ: Khu phố A, phường B, thành phố C, tỉnh D, có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Bà Nguyễn Thị H (là mẹ đẻ của bị hại); địa chỉ: Khu phố A, phường B, thành phố C, tỉnh D, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Kim V, địa chỉ: Khu phố A, phường B, thành phố C, tỉnh D, vắng mặt.

Người làm chứng: Anh Nguyễn Minh Đ; địa chỉ: Khu phố A, phường B, thành phố C, tỉnh D, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28/02/2024, Hoàng Hải D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, màu đen, biển kiểm soát 74C1-419.43 lưu thông ở giữa đường Trần Hoàn theo hướng đường Nam Cao đi Thanh Niên. Khi cách Trường Tiểu học Đông Giang khoảng 50 mét, D phát hiện xe gắn máy nhãn hiệu Espero, màu đen, biển kiểm soát 74AC-023.31 do Lê Hữu P (sinh năm 2007, trú tại khu phố 5, phường Đông Lễ, thành phố Đông Hà) điều khiển theo chiều ngược lại (hướng đường Thanh Niên đi Nam Cao), đi trên phần đường bên phải, ở khu vực giữa đường theo hướng di chuyển, cách phía trước xe mô tô của D khoảng 05-07 mét. D đạp phanh, giảm tốc độ, đồng thời đánh lái lách sang trái để tránh nhưng do khoảng cách quá gần nên xe mô tô do D điều khiển đã tông vào xe gắn máy do P điều khiển. Sau khi va chạm, P bị ngã xuống đường, xe gắn máy biển kiểm soát 74AC-023.31 bị trượt ngã theo hướng di chuyển. Cùng lúc này, xe mô tô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đen, biển kiểm soát 74C1-355.91 do Hoàng Kim V (sinh năm 1987, trú tại khu phố 6, phường Đông Giang, thành phố Đông Hà) điều khiển, đang di chuyển từ phía sau tới theo hướng đường Nam Cao đi Thanh Niên. Do sự việc xảy ra bất ngờ, V không kịp xử lý nên phần phía trước bên trái xe mô tô của V va chạm với phần đuôi của xe gắn máy biển kiểm soát 74AC-023.31. V bóp phanh giảm tốc độ nhưng không làm chủ được tay lái nên bị ngã về phía bụi cây bên phải lề đường theo hướng di chuyển.

Hậu quả: Lê Hữu P và Hoàng Hải D bị thương phải nhập viện điều trị; 03 phương tiện bị hư hỏng.

Kết luận giám định số 655/KL-KTHS ngày 06/6/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Trị kết luận:

Vị trí va chạm giữa xe mô tô BKS 74C1-419.43 và xe gắn máy BKS 74AC-023.31 là: Phần trước bên phải xe mô tô BKS 74C -419.43 tại các bộ phận: Tay phanh, tay lái; cánh mang; lốc máy, cành phanh chân, gác để chân va chạm với phần trước bên phải xe gắn máy BKS 74AC-023.31 tại các bộ phận: Cụm kim loại gắn đầu mút phía trên dây ga, tay phanh, tay lái; cánh mang; phuộc và đai ốc cố định trục, cành phanh chân, gác để chân.

Chiều hướng va chạm: Xe mô tô BKS 74C1-419.43 và xe gắn máy BKS 74AC-023.31 va chạm vào nhau theo chiều hướng từ trước ra sau trong trạng thái 02 (hai) phương tiện có hướng di chuyển ngược chiều.

Vị trí va chạm giữa xe mô tô BKS 74C1-355.91 và xe gắn máy BKS 74AC-023.31 là: Phần trước bên trái xe mô tô BKS 74C1-355.91 va chạm vào xe gắn máy BKS 74AC-023.31 tại các bộ phận: Khung kim loại bảo vệ yên, ốp nhựa đuôi xe, ốp nhựa đèn báo hãm và đèn tín hiệu chuyển hướng. Chiều hướng va chạm: Xe mô tô BKS 74C1-355.91 va chạm vào xe gắn máy BKS 74AC-023.31 theo chiều hướng từ trên xuống dưới trong trạng thái xe gắn máy BKS 74AC-023.31 đang ngã sang trái.

Vị trí va chạm đầu tiên trên hiện trường giữa xe mô tô BKS 74C1-419.43 và xe gắn máy BKS 74AC-023.31 là: Khu vực được giới hạn từ điểm đầu dấu vết số 4 đến điểm đầu dấu vết đánh số 5 (được ghi nhận và mô tả trong hồ sơ khám nghiệm).

Không đủ cơ sở xác định vị trí va chạm đầu tiên trên hiện trường giữa xe mô tô BKS 74C1-355.91 và xe gắn máy BKS 74AC-023.31.

Không có cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô BKS 74C1-419.43, xe gắn máy BKS 74AC-023.31 và xe mô tô BKS 74C1-355.91 liền trước thời điểm xảy ra tai nạn.

Tại Kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể số 115/KLTTCT-TTPY ngày 17/6/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Trị, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hoàng Hải D tại thời điểm giám định là 41%.

Tại Kết luận giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể số 179/KLTTCT-TTPY ngày 28/8/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Quảng Trị, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Hữu P tại thời điểm giám định là 85%.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 1693/KL-HĐĐGTS ngày 20/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đông Hà, kết luận:

Trị giá thiệt hại của xe gắn máy nhãn hiệu Espero, biển kiểm soát: 74AC-023.31 tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông vào ngày 28/02/2024 là 1.126.500 đồng.

Trị giá thiệt hại của mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển kiểm soát: 74C1-419.43, tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông vào ngày 28/02/2024 là 430.000 đồng.

Trị giá thiệt hại của xe mô rô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu đen, biển kiểm soát: 74C1-355.91, tại thời điểm xảy ra tai nạn giao thông vào ngày 28/02/2024 là 959.000 đồng.

Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của Hoàng Hải D vào ngày 28/02/2024 là 31,17mmol/L (tương đương 143,63mg/100ml).

Cáo trạng số 52/CT-VKS-ĐH ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị truy tố bị cáo Hoàng Hải D về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 2 Điều 260 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Hải D phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Hoàng Hải D từ 18 đến 21 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Về dân sự: Chấp nhận yêu cầu của bị hại buộc bị cáo Hoàng Hải D bồi thường tổng số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Bị cáo đã bồi thường 62.500.000 đồng, buộc bị cáo tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 87.500.000 đồng (Tám mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

Về xử lý vật chứng: Trả lại 01 xe gắn máy nhãn hiệu Espero, biển kiểm soát: 74AC-023.31 cho bà Nguyễn Thị Hằng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển kiểm soát: 74C1- 419.43 cho bị cáo Hoàng Hải D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng hình sự trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về tội danh: Ngày 28/02/2024, Hoàng Hải D (có giấy phép lái xe hạng A1) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74C1-419.43 tham gia giao thông nhưng trong máu có nồng độ cồn là 31,17mmol/L, không đi bên phải theo chiều đi của mình, tránh xe đi ngược chiều về phía bên trái nên đã va chạm với xe gắn máy biển kiểm soát 74AC-023.31 do Lê Hữu P điều khiển đi ngược chiều gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe của Lê Hữu P với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 85%.

Như vậy, hành vi của Hoàng Hải D đã đủ yếu tố cấu thành tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự và an toàn công cộng. An toàn giao thông luôn được toàn xã hội quan tâm và hướng tới xây dựng văn hóa giao thông tiến bộ để giảm thiểu những thiệt hại do tai nạn giao thông gây ra nên cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục, đấu tranh phòng chống tội phạm và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đã khai báo thành khẩn; tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại; hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo tham gia nhiều hoạt động tình nguyện tại địa phương nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần xem xét cho bị cáo được áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử dưới khung. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ răn đe và giáo dục bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại văn bản yêu cầu bồi thường ngày 22/01/2025; ngày 17/4/2025 và ngày 01/4/2025, bị hại và Đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 184.082.000 đồng, cụ thể:

Chi phí điều trị tại bệnh viện (viện phí, hóa đơn thuốc): 41.082.000 đồng;

Chi phí tiền ăn cho bị hại tại bệnh viện: 119 ngày x 400.000 đồng/ngày = 47.600.000 đồng;

Chi phí tiền ăn cho bị hại sau khi ra viện: 127 ngày x 300.000 đồng/ngày = 38.100.000 đồng;

Chi phí thuê xe tái khám: 600.000 đồng x 04 lần = 2.400.000 đồng;

Chi phí thuê xe đi từ bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị đến Bệnh viện Trung ương Huế: 1.300.000 đồng;

Chi phí thuê xe đưa đi cấp cứu đến bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị: 1.500.000 đồng;

Chi phí mất thu nhập của người chăm sóc bị hại: 246 ngày x 220.000 đồng/ngày = 54.120.000 đồng.

Ngày 23/4/2025, đại diện hợp pháp của bị hại có văn bản trình bày yêu cầu bị cáo bồi thường tổng số tiền là 150.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản chi phí gồm: Viện phí, thuốc, tiền ăn của bị hại trong thời gian điều trị tại viện và sau khi ra viện, chi phí mất thu nhập của người chăm sóc bị hại, thuê xe đi cấp cứu và tái khám như văn bản yêu cầu bồi thường ngày 23/4/2025 là 150.000.000 đồng. Ngoài ra, bị hại còn yêu cầu bồi thường bổ sung chi phí phục hồi chức năng cho bị hại sau khi ra viện.

Tại phiên tòa, bị cáo chấp nhận bồi thường tổng số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng). Xét thấy, các chi phí đại diện hợp pháp của bị hại yêu cầu bồi thường là hợp lý, phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu. Bị cáo đã bồi thường số tiền 62.500.000 đồng nên phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền còn lại là 87.500.000 đồng (Tám mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

Đối với khoản yêu cầu bồi thường bổ sung chi phí phục hồi chức năng sau khi ra viện: Bị hại không yêu cầu số tiền cụ thể cũng như không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu của mình nên Hội đồng xét xử không xem xét. Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường dân sự bằng một vụ án độc lập khi có đầy đủ tài liệu, chứng cứ.

Bị cáo không yêu cầu bị hại bồi thường về trách nhiệm dân sự.

Về một số vấn đề liên quan trong vụ án:

Hành vi điều khiển xe gắn máy biển kiểm soát 74AC-023.31(có dung tích xi lanh 50cm3) của Lê Hữu P tham gia giao thông nhưng không đi bên phải theo chiều đi của mình. Tuy nhiên, hành vi trên chưa gây hậu quả nghiêm trọng (Hoàng Hải D bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể 41%, xe mô tô biển kiểm soát 74C1-419.43 bị thiệt hại 430.000 đồng và xe mô tô biển kiểm soát 74C1-355.91 bị thiệt hại 959.000 đồng) nên không cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự. Công an thành phố Đông Hà đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Hữu P là có căn cứ.

Đối với Hoàng Kim V, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74C1 - 355.91 đi đúng tốc độ quy định trên phần đường bên phải theo chiều đi của mình, không vi phạm quy định về tham gia giao thông. Tuy nhiên, sau khi xảy ra tai nạn giao thông, Hoàng Kim V điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74C1-355.91 là phương tiện liên quan trực tiếp đến vụ tai nạn giao thông rời khỏi hiện trường (Hoàng Kim V không có ý định trốn tránh trách nhiệm) vi phạm quy định tại điểm e khoản 3 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ. Công an thành phố Đông Hà đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Kim V.

Về vật chứng:

Đối với 01 xe gắn máy nhãn hiệu Espero, biển kiểm soát: 74AC-023.31, thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị Hằng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển kiểm soát: 74C1- 419.43 thuộc sở hữu của Hoàng Hải D, sau khi phục vụ công tác điều tra cần trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Hải D phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:

Hoàng Hải D: 19 (Mười chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 38 (Ba mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 25 tháng 4 năm 2025).

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo Hoàng Hải D cho Ủy ban nhân dân phường Đông Giang, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

2. Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 38/2025/LCĐKNCT-HS ngày 10/3/2025 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số 26/QĐ-TA ngày 10/3/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà đối với bị cáo Hoàng Hải D.

3. Về dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự, Điều 357; Điều 584; Điều 585 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Hoàng Hải D phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 87.500.000 đồng (Tám mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thanh toán xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.

4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại 01 xe gắn máy nhãn hiệu Espero, biển kiểm soát: 74AC-023.31, số máy: VDEJQ139FMBF050398, số khung: RPENCBVPENA050398, đã qua sử dụng cho bà Nguyễn Thị H và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển kiểm soát: 74C1- 419.43, số máy: JC76E0429625, số khung: RLHJC7637JZ090041, đã qua sử dụng cho Hoàng Hải D.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Trị với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà).

5. Về án phí: Áp dụng khoản 2, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.375.000 đồng (Bốn triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ