vanban.org

Bản án 59/2025/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 31/03/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xử phạt bị cáo Lò Văn C 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/12/2024. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "LÒ VĂN CG- TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SN LA
Bản án số: 59/2025/HSST
Ngày 31 - 03 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử S thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thành Vân; ông Quàng Văn Tiện

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Trần Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 03 năm 2025 tại tại Trụ sở Ủy ban nhân dân xã Nâm Ty, huyện Sông Mã, tỉnh Sn La, xét xử S thẩm công khai vụ án hình sự S thẩm thụ lý số: 65/2025/HSST ngày 24 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn C, sinh năm 1984, tại huyện Sông M, tỉnh Sn La;

Nơi cư trú: Bản Pe T, xã Chiềng S, huyện Sông Mã, tỉnh Sn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt nam; con ông Lò Văn B và bà Lò Thị L; bị cáo có vợ là Lò Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/12/2024 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ S vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 25 phút ngày 10/12/2024 tổ công tác Công an xã Chiềng S, huyện Sông Mã, tỉnh Sn La làm nhiệm vụ kiểm soát ma túy tại bản Pe T, xã Chiềng S, huyện Sông Mã, Sn La. Tổ công tác đến nhà Lò Văn C là đối tượng bị tố giác sử dụng trái phép chất ma túy, khi tổ công tác đến nhà thấy C có biểu hiện vi phạm pháp luật. Tổ công tác đã mời người chứng kiến và T hành kiểm tra người C. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi quần bên phải phía trước Lò Văn C đang mặc có một lọ nhựa màu trắng nút màu đỏ bên trong có chứa 16 viên nén màu hồng, C khai nhận là viên hồng phiến mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lò Văn C về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ vật chứng niêm phong.

Ngày 11/12/2024 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sn La đã T hành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu giám định, niêm phong mẫu giám định và vật chứng.

Kết quả cân tịnh: Cân tách bì 16 viên nén màu hồng được tổng khối lượng 1,49 gam. Trích 05 viên có khối lượng 0,46 gam làm mẫu gửi giám định, ký hiệu C. Vật chứng còn lại 11 viên có khối lượng 1,03 gam được cho vào lọ nhựa màu trắng nút màu đỏ ban đầu làm vật chứng lưu kho ký hiệu L.

Kết luận giám định số: 2100/KL-KTHS ngày 13/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sn La. Kết luận: "Mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,46 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 1,49 gam; Loại Methamphetamine".

Quá trình điều tra bị cáo Lò Văn C khai nhận hành vi phạm tội như sau: Lò Văn C sử dụng ma túy từ tháng 6 năm 2023. Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 10/12/2024 C mang theo số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) là tiền do lao động tiết kiệm có được một mình đi bộ ra đầu cầu treo thuộc bản Pe T, xã Chiềng S, Sông Mã, Sn La để tìm mua ma tuý sử dụng. Đến đầu cầu treo C gặp một người đàn ông dân tộc Mông khoảng 30 tuổi, không rõ tên, tuổi và địa chỉ đang đứng ở ven đường, qua nói chuyện thì biết người đàn ông này có bán ma túy nên C có hỏi “Anh có ma túy bán không, nếu có bán cho 200.000đ” thì người đàn ông trả lời “có”. Sau đó C lấy ở trong túi quần đang mặc ra 01 một tờ tiền mệnh giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đưa cho người đàn ông dân tộc Mông thì người này nhận tiền rồi lấy ở trong túi áo ngực đang mặc ra 01 (một) lọ nhựa màu trắng nút màu đỏ, bên trong có chứa 17 viên Hồng phiến cho C. Mua bán xong người đàn ông đi đâu không rõ, C cất lọ ma túy vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Về đến nhà C lấy ra 01 viên Hồng phiến sử dụng bằng hình thức đốt hít khói qua đường hô hấp vào trong cơ thể. Còn lại 16 viên C vẫn để trong lọ nhựa và cất giấu trong túi quần phía trước bên phải đang mặc để sử dụng dần. Đến khoảng 17 giờ 25 phút cùng ngày khi C đang ở nhà thì tổ công tác Công an xã Chiềng S đến nhà C kiểm tra thì phát hiện trong túi quần phía trước bên phải đang mặc có một lọ nhựa màu trắng nút màu đỏ bên trong có chứa 16 viên nén màu hồng, C khai nhận là Hồng phiến. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội bắt quả tang đối với Lò Văn C về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ vật chứng niêm phong.

Cáo trạng số 34/CT-VKSSM ngày 24 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử bị cáo Lò Văn C về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn C đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lò Văn C từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù;

Đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị HĐXX: Tịch thu để tiêu hủy 01 lọ nhựa màu trắng, nút màu đỏ ký hiệu L= 1,03 gam ma túy, loại Methamphetamine.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự S thẩm theo quy định.

Bị cáo Lò Văn C không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cở sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, các tài liệu khác có trong hồ S vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ S vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người T hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ S vụ án, thể hiện: Ngày 10/12/2024 bị cáo Lò Văn C đã có hành vi tàng trữ 1,49 gam ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, vẫn giữ nguyên lời khai như đã khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sông Mã, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án và hoàn toàn nhất trí với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; phát biểu luận tội của của Kiểm sát viên tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị mức xử phạt tù giam đối với bị cáo về tội danh nêu trên là phù hợp, có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi mà bị cáo Lò Văn C thực hiện đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Về tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm điều cấm của pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật, vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ nhằm mục đích sử dụng; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội cũng như công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về các vấn đề có liên quan: Đối với người đàn ông dân tộc Mông không rõ tên tuổi và địa chỉ là người đã bán ma tuý cho bị cáo tại khu vực đầu cầu treo thuộc bản Pe T, xã Chiềng S, huyện Sông Mã vào ngày 10/12/2024. Do không xác định được họ tên đầy đủ và địa chỉ nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.

Vật chứng của vụ án: Đối với 1,03 gam ma túy, loại Methamphetamine đựng trong 01 lọ nhựa màu trắng, nút màu đỏ là vật cấm lưu hành, nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo Lò Văn C phải chịu án phí hình sự S thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Tuyên bố bị cáo Lò Văn C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Lò Văn C 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/12/2024.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu để tiêu hủy 1,03 gam ma túy, loại Methamphetamine đựng trong 01 lọ nhựa màu trắng, nút màu đỏ,

(vật chứng được đựng trong một phong bì thư do Công an tỉnh Sn la phát hành được niêm phong mã số 0005344).

Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 35/QĐ-VKS ngày 24/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã và Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 14 giờ 30 phút ngày 25 tháng 02 năm 2025 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Lò Văn C phải chịu án phí hình sự S thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 31/03/2025).

Cỡ chữ