vanban.org

Bản án 59/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 12/09/2025 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Diệu Đ.

Về hôn nhân: Cho chị Lý Diệu Đ được ly hôn với anh C. Về con chung: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa nguyên đơn chị Lý Diệu Đ với bị đơn anh C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Diệu Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST
Ngày 12-9-2025
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Châu

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thạch Khmau

Ông Quảng Thanh Tú

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Chí Tâm, là Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long: Bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 44/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2025, giữa:

- Nguyên đơn: Chị Lý Diệu Đ, sinh ngày 27 tháng 11 năm 1993; số căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx do Cục Cảnh sát Quản lý hành chính và trật tự xã hội cấp ngày 09/8/2021

Địa chỉ: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (Nay là khóm E, xã T, tỉnh Vĩnh Long) (xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh C, sinh ngày 24 tháng 3 năm 1967; Số hiệu chiếu: 314150721 cấp ngày 10/11/2016

Địa chỉ: Số A, Đ, khóm A. Thôn Đ, làng L, huyện G, lãnh thổ Đài Loan (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày bản tự khai chị L Diệu Định trình bày: Chị và anh C quen biết nhau và được gia đình tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh. Sau khi kết hôn, anh chị sống với nhau hạnh phúc được khoảng 01 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên thường xuyên cải vã. Nhận thấy cuộc sống chung không thể hòa hợp, anh chị không còn tình cảm để tiếp tục cuộc sống hôn nhân nên chị yêu cầu được ly hôn với anh C.

Về con chung: Chị Lý Diệu Đ trình bày không có, không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lý Diệu Đ trình bày không có, không có yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh C đã nhận được thông báo của Tòa án về việc thụ lý vụ án, thời gian hòa giải và xét xử nhưng anh C không có ý kiến bằng văn bản nộp cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lý Diệu Đ và cũng không có nộp tài liệu, chứng cứ nào khác cho Tòa án.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Lý Diệu Đ vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh C vắng mặt lần thứ hai không có lý do, chị Lý Diệu Đ giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Vị đại diện Viện kiểm sát đã phân tích nội dung vụ án, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở lời khai và chứng cứ có trong hồ sơ; Vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đ, cho chị Lý Diệu Đ được ly hôn với anh C. Về con chung, chị Đ khai không có và không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ và anh C không có tranh chấp, không yêu cầu nên không xem xét. Về án phí: Chị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Lý Diệu Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với anh C; đây là quan hệ tranh chấp “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đang định cư tại Lãnh thổ Đài Loan nên căn cứ Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025, khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh.

Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, nguyên đơn chị Lý Diệu Đ vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh C vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.

Về hôn nhân: Chị Lý Diệu Đ và anh C tự nguyện tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 06/12/2023 (BL 04), nên đây là hôn nhân hợp pháp theo pháp luật Việt Nam. Nguyên nhân ly hôn, theo chị Đ khai cuộc sống hôn nhân phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vã. Xét thấy, mục đích hôn nhân là vợ chồng phải thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc nhưng cuộc hôn nhân giữa chị Đ, anh C không đạt được mục đích đó. Hiện nay hai người ở hai nước khác nhau, không liên lạc trao đổi nên việc hàn gắn tình cảm gia đình là không thể thực hiện được. Do đó, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đ, cho chị Đ và anh C ly hôn với nhau.

Về con chung: Theo chị Đ khai giữa chị anh C sống chung với nhau không có con chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lý Diệu Đ và anh C không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét thấy ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật như đã nhận định ở phần trên, nên chấp nhận.

Về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Theo khoản 3 Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, buộc chị Lý Diệu Đ phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài theo quy định của pháp luật.

Về án phí sơ thẩm: Theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”. Do đó, buộc chị Lý Diệu Đ phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 40, Điều 147, Điều 153, Điều 228, Điều 238, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025;

Căn cứ khoản 1 Điều 4 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.

Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lý Diệu Đ.

1. Về hôn nhân: Cho chị Lý Diệu Đ được ly hôn với anh C.

2. Về con chung: Không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Chị Lý Diệu Đ phải chịu số tiền chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài bằng 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí ủy thác tư pháp 200.000 đồng chị Đ đã nộp theo biên lai số 0000002 ngày 19 tháng 11 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long).

5. Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Lý Diệu Đ phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004516 ngày 02/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh (Nay là Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Long), chị Đ nộp đủ án phí.

Án xử sơ thẩm công khai vắng mặt nguyên đơn và bị đơn, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ