- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa chị Trịnh Thị Bích N và anh Đinh Văn T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn ly hôn của chị Trịnh Thị Bích N, xử cho chị Trịnh Thị Bích N và anh Đinh Văn T được ly hôn.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2025/HNGĐ - ST. Ngày: 24/12/2025. V/v: Tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Xuân Trường.
2. Bà Ngô Thị Luân.
- Thư ký phiên toà: Phan Khắc Duy - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Trâm - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường Ủy ban nhân dân thị trấn Đinh Văn, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (Cũ) xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 139/2025/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 08 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị Bích N, sinh năm 2001.
Địa chỉ: Thôn T, xã P, tỉnh Lâm Đồng.
Bị đơn: Anh Đinh Văn T, sinh năm: 2000.
Hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã P, tỉnh Lâm Đồng.
Hiện đang chấp hành án tại: Đội 27, phân trại II, cục C10, trại giam Đại Bình.
(Các đương sự có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn ly hôn và bản tự khai nguyên đơn chị Trịnh Thị Bích N trình bày: Chị và anh T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2021, trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (cũ). Cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng anh chị bất đồng với nhau về quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Anh T thường xuyên chơi bời, không lo làm ăn kinh tế, không quan tâm chăm sóc cho gia đình. Từ khi anh T đi chấp hành án thì tình cảm vợ chồng anh chị ngày càng xa cách. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.
Về con chung: Chị xác định vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Đinh Gia K, sinh ngày 10/01/2023. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi con. Chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị xác định vợ chồng anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Chị xác định vợ chồng anh chị không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bị đơn anh Đinh Văn T trình bày: Anh và chị N xây dựng gia đình với nhau vào năm 2021 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng cũ. Sau khi kết hôn vợ chồng anh chị chung sống tại xã T, huyện L. Thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống với nhau bình thường không sảy ra mâu thuẫn gì lớn. Nay chị N yêu cầu giải quyết ly hôn với anh thì anh cũng đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh xác định vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Đinh Gia K, sinh ngày 10/01/2023. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì anh đồng ý giao con chung cho chị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Anh xác định vợ chồng anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Anh xác định vợ chồng anh chị không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không được.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lâm Đồng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng cũng như phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án theo hướng đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của chị Trịnh Thị Bích N. Xử cho chị N và anh T được ly hôn. Về con chung: Giao con chung là cháu Đinh Gia K, sinh ngày 10/01/2023 cho chị N có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Chị N, anh T xác định về tài sản chung vợ chồng anh chị không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Chị N, anh T xác định vợ chồng anh chị không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, không đặt ra để xem xét, giải quyết.
Về án phí: Buộc chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa cũng như ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Tại phiên toà, nguyên đơn chị Trịnh Thị Bích N, bị đơn anh Đinh Văn T vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt chị N, anh T theo thủ tục chung là phù hợp.
Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2021 trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng (cũ) vào ngày 30/3/2021 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Trong quá trình giải quyết vụ án chị N xác định mâu thuẫn vợ chồng anh chị đã trầm trọng kéo dài, không còn khả năng cải thiện nên chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh T. Chị N cho rằng cuộc sống chung của vợ chồng anh chị hòa thuận hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng anh chị bất đồng với nhau về quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Anh T thường xuyên chơi bời, không lo làm ăn kinh tế, không quan tâm chăm sóc cho gia đình. Từ khi anh T đi chấp hành án thì tình cảm vợ chồng anh chị ngày càng xa cách. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T. Còn anh T thì cho rằng thời gian đầu vợ chồng anh chị chung sống với nhau bình thường không sảy ra mâu thuẫn gì lớn. Nay chị N yêu cầu giải quyết ly hôn với anh thì anh cũng đồng ý ly hôn.
Xét thấy, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do chị N, anh T bất đồng với nhau về quan điểm sống. Bên cạnh đó vì lý do anh T phải đi chấp hành án nên tình cảm vợ chồng anh chị dành cho nhau không còn. Từ đó vợ chồng anh chị thường xuyên sảy ra mâu thuẫn và sô sát với nhau. Đồng thời qua xác minh thì được biết nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng anh chị là do anh T sử dụng ma túy. Anh T không lo làm ăn, thường xuyên chơi bời và không chăm lo cho gia đình. Vì vậy, nếu kéo dài tình trạng hôn nhân như hiện nay cũng không mang lại hạnh phúc cho các bên do mâu thuẫn đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị N, xử cho chị N và anh T được ly hôn là hoàn toàn phù hợp.
Về con chung: Chị N, anh T xác định vợ chồng anh chị có một con chung là cháu Đinh Gia K, sinh ngày 10/01/2023. Khi ly hôn anh chị thống nhất giao con chung cho chị N có trách nhiệm chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Xét thấy, từ khi anh T đi chấp hành án cho đến nay cháu K do chị N chăm sóc, nuôi dưỡng. Để đảm bảo cho sự phát triển bình thường của cháu nên cần căn cứ khoản 1 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung là cháu Đinh Gia K, sinh ngày 10/01/2023 cho chị N có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung: Chị N, anh T xác định về tài sản chung vợ chồng anh chị không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Chị N, anh T xác định vợ chồng anh chị không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
Về án phí: Buộc chị Trịnh Thị Bích N phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 53; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 228 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận đơn ly hôn của chị Trịnh Thị Bích N, xử cho chị Trịnh Thị Bích N và anh Đinh Văn T được ly hôn.
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Đinh Gia K, sinh ngày 10/01/2023 cho chị Trịnh Thị Bích N có trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Đinh Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; Quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
3. Về án phí: Chị Trịnh Thị Bích N phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp 300.000đ theo biên lai thu tiền số 0004832 ngày 13 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng. Chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); - VKSND khu vực 3 - LĐ; - Chi cục THADS tỉnh LĐ; - Các đương sự; - Cơ quan đăng ký kết hôn; - Lưu AV - HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Hữu Dũng |