vanban.org

Bản án 59/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Cho bà Bùi Thị Lam T được ly hôn với ông Võ Hoàng V. 2/- Về con chung: giao cháu Võ Bùi Hồng A (nữ) sinh ngày 07/02/2025 cho bà Bùi Thị Lam T tiếp tục nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Lam Tuyền - Võ HOàng Vũ"
  • Tòa quyết gì? 1/- Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 09/9/2025
V/v tranh chấp: Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Mỹ Nhung

Các hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Mến.

2/ Bà Lê Thị Thắm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Anh, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ.

Ngày 09 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 124/2025/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 6 năm 2025. Về tranh chấp “Xin ly hôn”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2025/QĐXX-ST ngày 15 tháng 8 năm 2025. Giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Lam T, sinh ngày 23/10/1998.

CCCD số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 14/3/2024.

Địa chỉ: số D, Cách mạng tháng tám, khu V, Phường C, quận N, TP .. (số 44/68/3, Cách mạng tháng tám, khu V, Phường C, TP . Cần Thơ). Số điện thoại: xxxx xxx xxx. Có mặt

- Bị đơn: Ông Võ Hoàng V, sinh ngày 25/10/1992.

CCCD số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 13/8/2021.

Địa chỉ: số C, khu vực P, Phường P, quận C, TP .. (số C, khu vực P, Phường H, TP . Cần Thơ). Số điện thoại: xxxx xxx xxx. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 21/5/2025 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn Bùi Thị Lam T trình bày:

1/ Về hôn nhân: bà và ông Võ Hoàng V tự nguyện kết hôn vào năm 2020, có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, quận C, thành phố Cần Thơ vào ngày 03/3/2023. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng dần về sau thì vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân là bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải vã do ông V có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, thường xuyên bạo hành về tinh thần với bà. Bà đã cố hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ nhưng mâu thuẫn ngày càng lớn, không hàn gắn được nên ly thân, bà đã dọn về nhà cha mẹ ở riêng từ ngày 25/12/2024 đến nay. Nhận thấy không còn tình cảm với ông V, không thể hàn gắn được nên bà T xin ly hôn để không còn ràng buộc với nhau.

2/ Về con chung: Bà khai vợ chồng có 01 con chung tên Võ Bùi Hồng A (nữ) sinh ngày 07/02/2025, bà T yêu cầu được nuôi cháu Võ Bùi Hồng A và yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con theo luật định.

3/ Về tài sản chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4/ Nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết, bị đơn ông Võ Hoàng V đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không rõ lý do. Vì thế Tòa án không tiến hành hòa giải được. Sau khi tiến hành đầy đủ các thủ tục cần thiết theo qui định, vụ án được đưa ra xét xử công khai vắng mặt bị đơn.

Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu xin được ly hôn, yêu cầu được nuôi con chung là cháu Võ Bùi Hồng A (nữ) sinh ngày 07/02/2025 và yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con theo luật định. Về tài sản và nợ chung: không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Võ Hoàng V tiếp tục vắng mặt không rõ lý do.

Sau khi nghe ý kiến phát biểu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Bà Bùi Thị Lam T và ông Võ Hoàng V xây dựng quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo qui định của pháp luật. Nên được xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp, thuộc phạm vi điều chỉnh của luật hôn nhân gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Nhận thấy cuộc sống chung của hai vợ chồng đã có thời gian hạnh phúc, đã có con chung với nhau; lẽ ra cả hai phải càng hiểu và quan tâm đến nhau nhiều hơn. Nhưng ông Vũ L không quan tâm đến hôn nhân, không thiện chí hàn gắn khi có rạn nứt trong quan hệ vợ chồng. Thậm chí khi bà T có đơn xin ly hôn tại tòa án ông vẫn không quan tâm, không liên hệ với Tòa án để trình bày ý kiến của mình. Qua xác nhận của Công an phường P ngày 23/5/2025 (BL 10) thì ông V có ĐKTT và hiện vẫn đang sinh sống tại địa phương nhưng cố tình vắng mặt không liên hệ với Tòa án để giải quyết vụ kiện. Chứng tỏ ông không có thiện chí muốn duy trì cuộc hôn nhân này với bà T nữa.

Mặc dù đã được động viên hàn gắn đoàn tụ nhưng bà T cho rằng giữa vợ chồng không hòa hợp về tính cách nên thường gây gỗ, ông V không quan tâm đến bà, làm cho bà tổn thương nhiều lần. Bản thân bà cũng không còn tình cảm gì với ông V, không còn tha thiết muốn duy trì cuộc hôn nhân này nữa. Hội đồng xét xử nhận thấy đời sống chung thực tế của hai vợ chồng bà T và ông V đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân của hai người không đạt được. Và hôn nhân thì phải xuất phát từ sự tự nguyện của cả hai người. Việc bà Bùi Thị Lam T xin được ly hôn là hoàn toàn phù hợp với Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung: tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn xác định vợ chồng có 01 con chung tên Võ Bùi Hồng A (nữ) sinh ngày 07/02/2025 đang sống với bà. Bà T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Xét cháu Võ Bùi Hồng A (nữ) sinh ngày 07/02/2025, con dưới 36 tháng tuổi nên giao cho mẹ trực tiếp nuôi, hiện cũng đang sống với bà T. Mặc khác, trong thời gian vợ chồng ly thân cho đến hiện nay cháu đều do bà T nuôi dưỡng và đảm bảo tốt về mọi mặt. Không có cơ sở chứng minh bà T không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt và phù hợp với tâm sinh lý của cháu bé, theo Điều 58 và 81 Luật hôn nhân và gia đình 2014, có căn cứ để chấp nhận nguyện vọng của bà Bùi Thị Lam T là giao cho bà tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung.

Tuy nhiên ông Võ Hoàng V vẫn được quyền tới lui thăm con theo qui định của pháp luật, không ai được ngăn cản.

Vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung: Trong đơn ly hôn bà Bùi Thị Lam T yêu cầu ông Võ Hoàng V cấp dưỡng nuôi con chung 5.000.000 đồng/tháng nhưng tại Biên bản công khai chứng cứ ngày 25/7/2025 cũng như tại tòa hôm nay, bà thay đổi chỉ yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con theo luật định. Mặc dù ông V không có mặt và không thể hiện ý kiến nhưng đây là nghĩa vụ bắt buộc theo qui định của pháp luật, không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Mặt khác xét về đạo đức xã hội thì ông V cũng phải có trách nhiệm đối với con do chính mình sinh ra. Nên yêu cầu của bà Bùi Thị Lam T là có căn cứ và phù hợp với qui định của pháp luật cần chấp nhận. Mức cấp dưỡng theo qui định của pháp luật tối thiểu là ½ tháng lương tối thiểu vùng 4.410.000 đồng tức 2.205.000 đồng/tháng (Hai triệu hai trăm lẽ năm nghìn đồng mỗi tháng).

Về tài sản và nợ chung: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn xác định không có và không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không điều chỉnh.

Vì các lẽ trên.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG

- Căn cứ Điều 51, 53, 56, 58, 81, 82, 107, 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

- Căn cứ Điều 28, 35, 147, 228, 235, 264, 267, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Căn cứ Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân.

QUYẾT ĐỊNH

1/- Chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.

Cho bà Bùi Thị Lam T được ly hôn với ông Võ Hoàng V.

2/- Về con chung: giao cháu Võ Bùi Hồng A (nữ) sinh ngày 07/02/2025 cho bà Bùi Thị Lam T tiếp tục nuôi dưỡng.

Kể từ khi bản án có hiệu lực, ông Võ Hoàng V có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.205.000 đồng/tháng (Hai triệu hai trăm lẽ năm nghìn đồng mỗi tháng) cho đến khi cháu Võ Bùi Hồng A tròn 18 tuổi.

Dành quyền thăm nom con chung cho ông Võ Hoàng V theo qui định của pháp luật.

3/- Về tài sản và nợ chung: không có và không yêu cầu nên không điều chỉnh. Nếu sau này phát sinh và các bên có yêu cầu thì sẽ được tách ra thành vụ kiện khác để giải quyết theo qui định của pháp luật.

4/- Về án phí: Bà Bùi Thị Lam T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001618 ngày 30/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự Q. Cái Răng (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 3 – Cần Thơ). Bà Bùi Thị Lam T đã nộp xong án phí hôn nhân sơ thẩm.

Án phí về cấp dưỡng: ông Võ Hoàng V phải chịu án phí cấp dưỡng là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bà Bùi Thị Lam T được quyền kháng cáo và kể từ ngày bản án được niêm yết tại trụ sở UBND phường H, nơi cư trú hoặc từ khi nhận được bản án ông Võ Hoàng V được quyền kháng cáo để xin Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ