vanban.org

Bản án 59/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị Kim T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1. Về quan hệ con chung: Bà Ngô Thị Kim T được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Gia Bảo H, sinh ngày 12/4/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ngô Thị Kim Thoa ly hôn với Nguyễn Văn Trung"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị Kim T.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Số: 59/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 12 – 3 - 2025.
“Về tranh chấp ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Liêm;

2. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Trọng Khiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thụy Thùy Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 756/2024/TLST-HNGĐ, ngày 11 tháng 11 năm 2024 về: “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 04 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 74/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Kim T, sinh năm 1983; địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1986; địa chỉ cư trú: Ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa bà T có mặt, ông T1 vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 11/11/2024 với các tài liệu kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa, nguyên đơn bà Ngô Thị Kim T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà với ông T1 được hình thành là do mai mối, cha mẹ hai bên đồng ý đứng ra tổ chức đám cưới cho hai người vào năm 2019, hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C ngày 13/5/2019. Cuộc sống chung hạnh phúc đến khi bà sinh con vào năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, bởi ông T1 ghen tuông vô cớ và khi làm được tiền thì tự tiêu xài, ăn nhậu không phụ giúp bà để nuôi con, nên vợ chồng thường xuyên xảy ra gây cải và ông L bỏ nhà đi rồi hai người ly thân nhau từ năm 2023 đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình không đứng ra hàn gắn. Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, bà xin ly hôn với ông T1.

Về quan hệ con chung: Bà với ông T1 có 01 con chung tên Nguyễn Gia Bảo H, sinh ngày 12/4/2020, hiện do bà nuôi. Khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục nuôi, bà không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng.

Về quan hệ tài sản chung: Bà với ông T1 không có tài sản chung.

Về quan hệ nợ chung: Bà với ông T1 không có nợ chung.

Tòa án đã thông báo hợp lệ cho ông Nguyễn Văn T1 để tham gia phiên họp công khai tài liệu, chứng cứ và hòa giải, nhưng ông vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa, bà T bảo lưu ý kiến của mình.

Quan điểm của Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (viết tắt HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Bà T – ông T1 chung sống có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống ông T1 không quan tâm, chia sẻ, bỏ gia đình đi ly thân với bà T, nên bà T xin ly hôn là có căn cứ. Về con chung: Cháu Nguyễn Gia Bảo H, từ trước nay do bà T nuôi, đề nghị HĐXX chấp nhận giao cháu H cho bà T tiếp tục nuôi; về tài sản chung, nợ chung không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị HĐXX quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

. Về thủ tục tố tụng: Ông T1 được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên HĐXX xét xử vắng mặt ông T1 theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

. Về thẩm quyền: Bà T khởi kiện ly hôn với ông T1 là thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông T1 có địa chỉ cư trú tại huyện C, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

. Về quan hệ hôn nhân: Bà T – ông T1 kết hôn và chung sống với nhau vào năm 2019, hôn nhân có đăng ký kết hôn, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 49 ngày 13/5/2019, nên xem là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa, bà T bảo lưu ý kiến của mình, thể hiện do ông T1 ghen tuông, không phụ giúp bà để nuôi con, từ đó dẫn đến bất đồng quan điểm gây cải và ly thân nhau…

Qua trình bày của bà T, mặc dù ông T1 đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng về yêu cầu xin ly hôn của bà T, nhưng ông không có ý kiến phản đối, chứng tỏ trình bày của bà T là có căn cứ, xác định mâu thuẫn vợ chồng bà T – ông T1 đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà T.

. Về quan hệ con chung: Xét thấy cháu Nguyễn Gia Bảo H từ trước nay là do bà T nuôi, tình cảm giữa bà và cháu H đã thật sự gắn bó, hiện cháu dưới 07 tuổi. Để không xáo trộn về tâm sinh lý của cháu cũng như tạo điều kiện cho cháu phát triển tốt về sau, HĐXX chấp nhận giao cháu H cho bà T tiếp tục nuôi là phù hợp.

HĐXX cũng giải thích cho bà T biết: Trong thời gian nuôi con, bà cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông T1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng bà T không yêu cầu, nên HĐXX không xem xét.

. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà T khai, bà với ông T1 không có tài sản chung và không có nợ chung. Tuy nhiên do ông T1 vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cập ở phần quyết định. Nếu sau này ông T1 có chứng cứ khác chứng minh có tài sản chung, có nợ chung và ông T1 có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bà Ngô Thị Kim T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; các bên không phải chịu án phí nào khác.

Vì các l trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của bà Ngô Thị Kim T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Ngô Thị Kim T được ly hôn với ông Nguyễn Văn T1.

Về quan hệ con chung: Bà Ngô Thị Kim T được tiếp tục nuôi con chung tên Nguyễn Gia Bảo H, sinh ngày 12/4/2020.

Bà T cùng người thân trong gia đình không được cản trở ông TrungUnHU2ng trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: Bà Ngô Thị Kim T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0023646 ngày 11/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới (bà T nộp đủ).

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/3/2025), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ