- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày: 07 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐỒNG HỚI, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Văn
Ông Hoàng Văn Tiến
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 8 năm 2024, tại Nhà văn hóa thôn Đ, xã Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 58/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Bùi Văn T, sinh ngày 19 tháng 4 năm 2005, tại Quảng Bình; tên gọi khác: Không; nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Tổ dân phố D, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Bùi Văn T1, sinh năm: 1975, con bà Hoàng Thị Thanh H, sinh năm: 1978; anh chị em ruột: Có 02 người, T là con út trong gia đình; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 30/5/2024 bị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 08 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/4/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt tại phiên toà theo lệnh trích xuất của Tòa án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 15/4/2024 Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Q phối hợp với Công an phường N, thành phố Đ tiến hành kiểm tra một nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn đang đứng tại khu vực trước số nhà A đường T, phường N, thành phố Đ. Quá trình kiểm tra, Bùi Văn T tự giác giao nộp 07 viên nén hình tròn màu hồng là ma túy loại hồng phiến do T cất dấu trong túi quần bên phải mục đích để sử dụng.
Về nguồn gốc số ma tuý trênThăng khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng ma túy, thông qua mạng xã hội Telegram, T biết được số điện thoại của một nam thanh niên không rõ lý lịch bán ma túy. Khoảng 12 giờ cùng ngày T liên lạc với nam thanh niên trên để hỏi mua ma túy thì được người này hẹn đến khu vực gần cầu vượt đường tránh thuộc xã Đ, thành phố Đ bán cho 07 viên ma túy loại hồng phiến với giá 500.000 đồng, T đưa số ma túy mua được về nhà cất giấu. Đến khoảng 17 giờ 30 phút ngày 15/4/2024 Thăng lấy số ma túy trên cất giấu trong túi quần đi tìm nơi sử dụng thì bị Cơ quan Công an tiến hành kiểm tra, bắt giữ cùng tang vật.
Tại Kết luận giám định số 472/KL-KTHS ngày 22/4/2024 của Phòng Kỹ sự Công an tỉnh Q kết luận: 07 viên nén hình tròn, màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,618 gam.
Vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Đ đã thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Ịphone màu hồng, gắn sim 0819411120 của Bùi Văn T; 07 viên nén hình tròn, màu hồng là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,618 gam. Hoàn trả lại sau giám định 0,509 gam và vỏ bao gói.
Tại bản cáo trạng số 60/CT-VKSĐH-MT ngày 08 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới truy tố bị cáo Bùi Văn T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Đồng Hới để xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX, xét xử bị cáo Bùi Văn T theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng; cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt Bùi Văn T từ 15 (Mười lăm) đến 18 (Mười tám) tháng tù.
Áp dụng Điều 56 BLHS về tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án đối với bản án số 99/2024/HS-ST ngày 30/5/2024 của tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội với mức án 08 (T2) tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì hiện nay bị cáo không có việc làm ổn định.
* Về vật chứng vụ án: Đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: Phong bì thư, số lượng : 1 cái; đặc điểm: Dán kín, trên ghi nội dung “472/KL-KTHS”; tình trạng: Niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.
(Theo kết luận giám định số: 472/KL-KTHS ngày 22/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q).
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Điện thoại di động, số lượng 01 chiếc; đặc điểm: Nhãn hiệu Iphone màu hồng, IMEI: 359177077495383, gắn sim số 0819.411.120; tình trạng: Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong, tình trạng điện thoại đã hết pin.
(Theo Biên bản người phạm tội quả tang lập ngày 15/4/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q).
Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu nộp theo quy định của pháp luật.
Quá trình xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, về trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản phạm tội quả tang, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, phù hợp cả về mặt thời gian, địa điểm và diễn biến quá trình phạm tội. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 15/4/2024 tại khu vực trước nhà số A đường T, phường N, thành phố Đ, Phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh Q phối hợp với Công an phường N, thành phố Đ phát hiện, bắt quả tang Bùi Văn T đang tàng trữ 07 viên ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,618g, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại bản Kết luận giám định số 472/KL - KTHS ngày 22/4/2024 của Phòng K - Công an tỉnh Q kết luận:
- Mẫu ký hiệu A là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng : 0,618g (Không phẩy sáu trăm mười tám gam).
Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, số thứ tự 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.
Vì vậy, hành vi của Bùi Văn T đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đúng như Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới đã truy tố.
Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của bị cáo Bùi Văn T là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ ma túy là chất độc hại gây nghiện ảnh hưởng đến sức khỏe của con người, sự phát triển của xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm hại chính sách độc quyền của Nhà nước về ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ nhận thức và hiểu biết pháp luật nhưng không chịu lao động chân chính mà lại ham chơi, đua đòi dẫn đến bị nghiện và lệ thuộc vào ma túy nên đã có hành vi cất giấu ma túy với mục đích sử dụng cá nhân. Bùi Văn T có nhân thân rất xấu, đã từng bị kết án bằng bản án của Tòa án nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà vẫn có hành vi vi phạm pháp luật. Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy vào thời điểm chờ xét xử vụ án Gây rối trật tự công cộng do Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội ; do đó bị cáo không phải chịu tiền án mà được xác định vào nhân thân.
Vì vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm tạo điều kiện cho bị cáo học tập, cải tạo phấn đấu trở thành người tốt, sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình cũng xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự 2015. Xét thấy, bị cáo không có công việc, không có thu nhập, mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy để phục vụ nhu cầu cá nhân, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Bị cáo Bùi Văn T phải chấp hành hình phạt tù đối với bản án số 99/2024/HS-ST ngày 30/5/2024 của tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội với mức án 08 (T2) tháng tù nên cần áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 về tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án.
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: Phong bì thư, số lượng : 1 cái; đặc điểm: Dán kín, trên ghi nội dung “472/KL-KTHS”; tình trạng: Niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.
(Theo kết luận giám định số: 472/KL-KTHS ngày 22/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q).
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Điện thoại di động, số lượng 01 chiếc; đặc điểm: Nhãn hiệu Iphone màu hồng, IMEI: 359177077495383, gắn sim số 0819.411.120; tình trạng: Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong, tình trạng điện thoại đã hết pin. (Theo Biên bản người phạm tội quả tang lập ngày 15/4/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q). Đối với điện thoại di động trên, đây là điện thoại của Bùi Văn T và cũng là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội: Bị cáo T dùng điện thoại để liên lạc hẹn mua ma túy để tàng trữ sử dụng cho bản thân.
Các nhận định khác: Về nguồn gốc toàn bộ số ma túy loại Methamphetamin trên, Bùi Văn T khai mua của một nam thanh niên lạ mặt, không rõ họ tên, địa chỉ, ở khu vực gần cầu vượt đường tránh thuộc đường L, xã Đ, thành phố Đ vào ngày 15/4/2024. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã tiến hành điều tra, xác minh nhưng chưa có căn cứ để xử lý; cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa cũng cần nhắc nhở các đối tượng trên trong việc phòng chống tội phạm.
. Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đồng Hới về tội danh, mức hình phạt phù hợp với các nhận định nêu trên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Án phí Hình sự sơ thẩm, án phí Dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về Điều luật áp dụng và hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Bùi Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù.
Áp dụng điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt tù đối với bản án số 99/2024/HS-ST ngày 30/5/2024 của tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội với mức án 08 (T2) tháng tù. Buộc bị cáo Bùi Văn T phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án bằng: 23 (Hai mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 15/4/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Bùi Văn T 45 ngày theo quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử, để đảm bảo thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu tiêu hủy: Phong bì thư, số lượng: 1 cái; đặc điểm: Dán kín, trên ghi nội dung “472/KL-KTHS”; tình trạng: Niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng dán băng dính trong suốt.
(Theo kết luận giám định số: 472/KL-KTHS ngày 22/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q).
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Điện thoại di động, số lượng 01 chiếc; đặc điểm: Nhãn hiệu Iphone màu hồng, IMEI: 359177077495383, gắn sim số 0819.411.120; tình trạng: Đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong, tình trạng điện thoại đã hết pin.
(Theo Biên bản người phạm tội quả tang lập ngày 15/4/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q).
(Vật chứng nêu trên hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/8/2024, giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Hới).
4. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (07/8/2024).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Sở Tư pháp QB; - VKSND thành phố Đồng Hới; - Công an thành phố Đồng Hới; - Chi cục THADS thành phố Đồng Hới; - Người tham gia tố tụng; - THA phạt tù; Lưu hồ sơ; Lưu TA THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Các Hội thẩm nhân dân) Hoàng Văn Tiến Trần Xuân Văn | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Tuyết Minh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Tuyết Minh |