- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Hà Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Trả lại; Điều 1 Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH LONG AN Bản án số: 59/2024/HS-ST Ngày: 24-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Thảnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Hưởng
Ông Trần Văn Tươi
- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Nguyễn Duy Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 54/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Hà Thanh T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 19/9/1968, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: 371 ấp P, xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn Đ (chết) và bà Nguyễn Thị Phụng A (chết); vợ Phạm Thị Hồng Y và có 01 người con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị khởi tố tại ngoại điều tra. Có mặt;
Bị hại:
1. Hà Hùng Đ1, sinh năm 1979. Địa chỉ: Ấp D, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.
2. Công ty TNHH MTV C3 thuê tài chính Ngân hàng TMCP C3-Chi nhánh T1. Địa chỉ: Tầng H, Tòa nhà V, 1 B, phường I, Quận C, Tp ..
Người đại diện ủy quyền của Công ty TNHH MTV C3 thuê tài chính Ngân hàng TMCP C3 -Chi nhánh T2: Công ty CP Á. Địa chỉ: F N, phường A, Quận E, Tp ..
Người đại diện ủy quyền của Công ty CP Á: Phạm Hồng C, sinh năm 1967. Địa chỉ: A M, B, Quận B, Tp ..
3. Bà Trần Thị C1, sinh năm 1976. Địa chỉ: Khu phố K, thị trấn K, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
Người đại diện ủy quyền của bà C1: Ông Trương Quốc K, sinh năm 1980. Địa chỉ: Khóm D, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.
4. Ông Nguyễn Thành L, sinh năm 1962. Địa chỉ: B A, Khu phố A, Xã P, Thành phố B, tỉnh Bến Tre
Người đại diện ủy quyền của ông L: Ông Lê Quang M, sinh năm 1983. Địa chỉ: C ấp D, xã B, huyện B, Tp .
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Công ty cổ phần T3. Địa chỉ: C A, phường T, Quận G, Tp .
Người đại diện ủy quyền của Công ty cổ phần T3: Ông Phan Quốc C2, sinh năm 1985. Địa chỉ; 2779 khu phố G, phường T, Quận A, Tp ..
2. Ông Nguyễn Phương Đ2, sinh năm 1975. Địa chỉ: 1 H, phường A, Quận A, Tp .
(Tất cả bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hà Thanh T có giấy phép lái xe hạng FC là nhân viên lái xe cho Công ty Cổ phần T3 (gọi tắt Công ty). Ngày 05/6/2023, ông Phan Quốc C2 đại diện Công ty điều động T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C-740.74 kéo theo sơmirơmóoc biển số 51R-339.57 đến tỉnh Đồng Tháp chở gạo về Thành phố Hồ Chí Minh (TP .). Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 05/6/2023, T điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51C-740.74 kéo theo sơmirơmóoc biển số 51R-339.57 chở gạo lưu thông trên cao tốc TP . - T, hướng tỉnh Tiền Giang đi TP .. Khi đến km 12+ thuộc xã M, huyện B, thời tiết mưa lăm răm trời tối giữa trung tim đường có đèn chiếu sáng công cộng đang bật sáng, mặt đường nhựa bằng phẳng, mặt đường có đọng nước, giữa trung tim đường có dải phân cách cố định phân chia 2 phần đường xe chạy, phần đường H đi TP . có vạch sơn màu trắng đứt quãng phân chia thành 3 làn đường làn đường bên trái sát dải phân cách rộng 3,8m, làn đường giữa rộng 3,8m, làn đường bên phải rộng 2,7m. T điều khiển xe đầu kéo lưu thông trên làn đường giữa với tốc độ khoảng 55km/h có mở đèn chiếu sáng phía trước có hiệu lực. Khi cách T4 khoảng 500m, phía trước cùng chiều xe T có 03 xe ô tô gồm xe bán tải biển số 71N-1331, xe taxi biển số 51H-718.35, xe tải biển số 85C-036.67 lưu thông cùng chiều trên làn đường giữa và 01 xe ô tô biển số 72A-371.46 lưu thông cùng chiều trên làn đường sát dải phân cách. Khi xe T cách 03 xe khoảng 10m và 03 xe lần lượt đi chậm và dừng lại do kẹt xe, T đạp thắng cho xe đầu kéo biển số 51C-740.74 kéo theo sơmirơmóoc biển số 51R-339.57 giảm tốc độ để tránh va chạm với xe cùng chiều phía trước và đánh lái xe sang phải thì phần phía trước đầu xe bên trái xe 51C-740.74 va chạm vào phía sau đuôi bên phải xe ô tô bán tải biển số 71N-1331 do Nguyễn Quang M1 điều khiển, dẫn đến xe 71N-1331 tiếp tục chạy sang làn đường sát dải phân cách phần phía trước đầu xe bên trái xe 71N-1331 tiếp tục va chạm vào phần cụm đèn tín hiệu và đèn báo hãm phía sau bên phải xe 72A-137.46 do Hà Hùng Đ1 điều khiển. Sau đó, xe 71N-1331 không dừng lại tiếp tục va chạm vào phía sau xe ô tô biển số 51H-718.35 do Nguyễn Phương Đ2 điều khiển lưu thông cùng chiều trên làn đường giữa. Do bất ngờ Đ2 không thắng kịp, nên xe 51H-718.35 tiếp tục chạy trườn về phía trước và phần phía trước đầu xe 51H-718.35 tiếp tục va chạm vào phía sau đuôi xe ô tô tải biển số 85C-036.67 do Trương Quốc K điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước xảy ra tai nạn giao thông. Hậu quả: 02 xe ô tô biển số 71N-1331 và xe ô tô biển số 51H-718.35 hư hỏng nặng; 02 xe hư hỏng nhẹ gồm xe ô tô biển số 72A-371.46 và xe ô tô biển số 85C-036.67.
Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường lập hồi 21 giờ 00 phút ngày 05/6/2023 tại km 12+300m Cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh- T, xã M, huyện B Đoạn đường đưcọ trải bê tông nhựa bằng phẳng không có chướng ngại vật, đường được chia thành 02 phần đường xe chạy riền biệt bởi dải phân cách cứng cố định ở giữa. Phía chiều đường bên phải hướng Tiền Giang đi TP H nơi xảy ra tai nạn được chia thành 03 làn đường, làn số 1 rộng 03m8, làn số 2 rộng 03m8, làn dừng khẩn cấp rộng 02m70. Giữa làn số 1 và 2 được phân chia bởi vạch sơn trắng liền nét, tốc độ tối đa cho phép 100km/h, tối thiểu 60km/h, hệ thống biển báo, vạch sơn kẻ đường còn có hiệu lực Chọn mép đường bên phải hướng Tiền Giang đi TP H làm mép đường chuẩn. Lấy tâm cột mốc km 12+300m trên thành dải phân cách ở giữa đường làm điểm mốc. Tại hiện trường đã ghi nhận được như sau:
Xe ô tô tải biển số 85C-136.67 đỗ trên làn đường số 2, đầu xe quay hướng TP H, đuôi xe hướng Tiền Giang, ký hiệu (1), từ tâm đầu trục bánh xe trước bên phải của (1) cách mép đường chuẩn 3m70, từ tâm đầu trục bánh sau bên phải của (1) cách đường chuẩn 3m30.
Xe ô tô con biển số 51H-718.35 đỗ trên làn đường số 2, đầu xe hướng TP H, đuôi xe hướng Tiền Giang ký hiệu (2) tâm trục bánh trước bên phải cách đường chuẩn 03m80, cách tâm đầu trục báh sau bên phải của (1) là 03m30, từ tâm trục bánh sau bên phải của (2) cách mép đường chuẩn là 3m65.
Xe ô tô tải đầu kéo biển số 51C-740.74 kéo theo sơ mi rơ mooc biển số 51R-339.57 đỗ một phần trên làn đường số 2, một phần trên làn khẩn cấp, đầu quay hướng TP H, đuôi quay hương Tiền Giang, ký hiệu (3). Từ tâm trục bánh bên phải tính theo thứ tự từ trước ra sau cách đường chuẩn là 01m, 01m30, 01m 40. 1m60, 01m65, từ tâm đầu trục bánh trước bên trái cách tâm trục bánh sau bên phải của (2) là 02m40.
Xe ô tô tải biển số 71N-1331 đỗ trên làn đường 2, đầu xe hướng TP H, đuôi xe hướng Tiền Giang ký hiệu (4) từ tâm đầu trục bánh trước bên phải của (4) cách đường chuẩn 04m, cách tâm đầu trục bánh sau bên phải của (2) là 3m7, từ tâm đầu trục bánh sau bên phải của (4) cách mép đường chuẩn là 04m15.
Xe ô tô con biển số 72A-371.46 đỗ trên làn số 1, sát dải phân cách, đầu xe hướng TP H, đuôi xe hướng Tiền Giang, ký hiệu (5). Từ tâm đầu trục bánh trước bên phải của (5) cách mép đường chuẩn 9m, cách tâm đầu trục bánh sau bên trái của (4) là 04m10, từ tâm đầu trục bánh sau bên phải của (5) cách mép đường chuẩn 8m8; cách tâm đầu trục bánh sau cùng bên trái của sơ mi rơ mooc biển số 51R-339.57 là 05m.
Từ tâm đầu trục bánh trước bên trái của xe ô tô tải biển số 85C-136.67 đo thẳng đến tâm cột km 12 nằm trên thành dải phân cách cứng cố định ở giữa đường ký hiệu (6) và là điểm mốc của vụ tai nạn.
Biên bản khám phương tiện xe ô tô biển số 51H-718.35 thể hiện: Kính chắn giao phía trước bị rạn nứt; Nắp capo cong thụng biến dạng; Lưới tản nhiệt, logo thương hiệu cong thụng gãy nứt; Cản trước và biển số cong vênh, móp thụng; Đèn chiếu sáng phía trước bên pải và bên trái vỡ hoàn toàn; Két nước làm mát cong vênh, biến dạng; Vè chắn bùn phía trước bên phải, trái móp thụng; Đèn hiệu tắc xi bung rời khỏi thân xe; Kính chắn gió lốp sau vỡ; Đèn hậu phía sau bên phải vỡ; Vè chắn bùn bánh sau bên phải móp thụng biến dạng; Cốp sau biến dạng, móp thụng cong vênh; Đèn hậu sau bên trái vỡ hoàn toàn; Cản sau cong vênh móp thụng, biến dạng; Hông sau thân xe phần bên trái móp thụng.
Biên bản khám phương tiện xe ô tô biển số 72A-371.46 thể hiện: kính hông phía sau bên phải nứt vỡ; Cụm đèn hậu phía sau bên phải nứt vỡ, một phần bị rời khỏi thân xe; Phần góc phái sau thân xe có vết trầy xước bong sơn, móp thụng có kích thước dài 0m90, rộng 0m70 cách mặt đất 1m10.
Biên bản khám phương tiện xe ô tô biển số 85C-136.67 thể hiện: Ốp bảo vệ đèn tín hiệu phía sau bên phải và trái cong thụng có chiều hướng từ ngoài vào trong; Đèn tín hiệu và đèn báo hãm phía sau bên phải vỡ hoàn toàn; Biển số sau cong vênh từ sau về trước; Cản sau cong vênh dồn từ sau ra trước.
Biên bản khám phương tiện xe ô tô biển số 71N-1331 thể hiện: Nắp ca pô móp mép biến dạng; Cản trước đầu xe gãy rời khỏi thân xe; Cụm đèn pha và đèn xi nhan trước bên phải, bên trái vỡ hoàn toàn; Vè chắn bùn bánh trước bên trái, bên phải cong vênh biến dạng; Bánh trước bên phải xẹp hơi; Kính chắn gióa sau cabin vỡ; Cụm đèn hậu phía sau bên phải gãy rời…
Biên bản khám phương tiện xe ô tô biển số 51C-740.74 thể hiện: Đèn chiếu sáng và đèn tín hiệu phía trước bên trái vỡ hoàn toàn; Cản trước gãy phần phía bên trái, bung rời khỏi thân xe; Biển số trước cong vênh…
Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 75/KL- HĐĐG, ngày 04/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B, định giá:
Thiệt hại của 01 xe ô tô biển số 51H-718.35, nhãn hiệu Toyota, màu sơn: Trắng, số khung 3371053; số máy 704446, số loại Innova bị hư hỏng do tai nạn giao thông là 220.264.333 đồng.
Thiệt hại của 01 xe ô tô tải cabin kép biển số 71N-1331, nhãn hiệu Toyota, màu sơn: Bạc, số khung 04005075; số máy 7915319, bị hư hỏng do tai nạn giao thông là 100.516.667 đồng.
Thiệt hại của 01 xe ô tô tải biển số 85C-036.67, nhãn hiệu Hino, màu sơn: Trắng, số khung 19046; số máy 15652, bị hư hỏng do tai nạn giao thông là 4.416.666 đồng.
Thiệt hại của 01 xe ô tô con biển số 72A-371.46, nhãn hiệu Suzuki, màu sơn: Trắng, số khung 901584; số máy ERTIGA, bị hư hỏng do tai nạn giao thông là 17.933.333 đồng. Tổng giá trị thiệt hại là 343.130.999 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 60/CT-VKSBL ngày 04 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo Hà Thanh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, bị cáo Hà Thanh T hoàn toàn nhìn nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B truy tố, không đưa ra chứng cứ nào minh oan, không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại về kết luận giám định, đồng thời không khiếu nại đối với Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An tham gia phiên tòa vẫn giữ y quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo Hà Thanh T về tội danh và điều luật, đồng thời phân tích đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hà Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Xử phạt bị cáo Hà Thanh T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách từ 03 năm đến 05 năm, thời hạn tính từ ngày tuyên án. Ngoài ra không đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Hà Thanh T
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử;
- Trả lại cho bị cáo Hà Thanh T 01 giấy phép lái xe hạng FC, số: 790990223702 do Sở G cấp ngày 23/09/2019 có giá trị đến 19/9/2023 (hiện Chi cục thi hành án dân sự đang tạm giữ).
- Xe ô tô đầu kéo biển số 51C-740.74 kéo theo sơmirơmóoc biển số 51R-0339.57 thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần T3; 01 giấy đăng ký xe và 01 giấy đăng ký kiểm định ô tô đầu kéo biển số 51C-740.74 kéo theo sơmirơmóoc biển số 51R-0339.57. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả xe cho ông Phan Quốc C2 là đại diện ủy quyền Công ty vận tải biển Châu Khang xong nên không đề nghị xem xét.
- Xe ô tô con biển số 72A-371.46; 01 giấy đăng ký xe và 01 giấy đăng ký kiểm định thuộc sở hữu của Hà Hùng Đ1; 01 giấy phép lái xe hạng C số 770036022285 tên Hà Hùng Đ1. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả xe và giấy tờ xe cho chủ sở hữu xong nên không đề nghị xem xét.
- Xe ô tô tải biển số 85C-036.67; 01 giấy đăng ký xe và 01 giấy đăng ký kiểm định thuộc sở hữu của Trần Thị C1. Cơ quan CSĐT Công an huyện B trả xe và giấy tờ xe cho Trương Quốc K là đại diện ủy quyền chủ sở hữu; 01 giấy phép lái xe hạng E, số 790070008072 cho Trương Quốc K xong nên không đề nghị xem xét.
- Xe ô tô bán tải biển số 71N-1331; 01 giấy đăng ký xe và 01 giấy đăng ký kiểm định thuộc sở hữu của Nguyễn Thành L. Cơ quan CSĐT Công an huyện B trả xe và giấy tờ xe cho Lê Quang M là đại diện ủy quyền của chủ sở hữu xong nên không đề nghị xem xét.
- Xe ô tô con biển số 51H-718.35 thuộc sở hữu của Công ty TNHH MTV C3-Chi nhánh T2. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả xe cho ông Phạm Hồng C là đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH MTV C3 thuê tài chính Ngân hàng TMCP C3 (bên cho thuê) và Công ty Cổ phần Á (V) (bên thuê tài chính); trả 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 790138025074 cho Nguyễn Phương Đ2 xong nên không đề nghị xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra, bị cáo Hà Thanh T và đại diện Công ty T3 bồi thường chi phí sửa xe cho Phạm Hồng C đại diện cho xe ô tô 51H-718.35 số tiền 150.000.000 đồng; bồi thường cho Lê Quang M đại diện chủ xe ô tô biển số 71N-1331, số tiền 100.000.000đ. Cả hai đã nhận đủ tiền và không yêu bồi thường gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ, bãi nại cho Hà Thanh T. Trương Quốc K và Hà Hùng Đ1 không yêu cầu Hà Thanh T bồi thường nên không đề nghị xem xét.
Lời nói cuối cùng của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
. Về nội dung:
Lời khai nhận tội của bị cáo Hà Thanh T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình điều tra, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông, Biên bản khám phương tiện, Bản kết luận định giá số 75/KL-HĐĐG ngày 04/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 05/6/2023, bị cáo Hà Thanh T có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 51C-740.74 kéo theo sơmirơmóoc biển số 51R-339.57 lưu thông trên Cao tốc TP Hồ Chí Minh- T- M, hướng Tiền Giang đi TP .. Khi đến km 12+ thuộc xã M, huyện B, bị cáo T điều khiển xe đầu kéo lưu thông trên làn đường giữa với tốc độ khoảng 55km/h. Lúc này, phía trước cùng chiều xe với bị cáo có xe bán tải biển số 71N-1331, xe tắc xi biển số 51H-718.35; xe tải biển số 85C-036.67 lưu thông trên làn đường giữa; 01 xe ô tô biển số 72A-371.46 lưu thông trên làn đường sát dải phân cách. Khi xe bị cáo cách 03 xe khoảng 10m và 03 xe lần lượt đi chậm và dừng lại do kẹt xe, bị cáo T đạp thắng cho xe đầu kéo giảm tốc độ và đánh lái xe sang phải thì phần phía trước đầu xe bên trái xe 51C-740.74 va chạm vào phía sau đuôi bên phải xe ô tô bán tải biển số 71N-1331 do Nguyễn Quang M1 điều khiển, xe 71N-1331 tiếp tục chạy sang làn đường sát dải phân cách va chạm vào phần cụm đèn tín hiệu và đèn báo hãm phía sau bên phải xe 72A-137.46 do Hà Hùng Đ1 điều khiển. Sau đó, xe 71N-1331 tiếp tục va chạm vào phía sau xe ô tô biển số 51H-718.35 do Nguyễn Phương Đ2 điều khiển. Đ2 không thắng kịp, nên xe 51H-718.35 tiếp tục chạy trườn về phía trước tiếp tục va chạm vào phía sau đuôi xe ô tô tải biển số 85C-036.67 do Trương Quốc K điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước. Hậu quả: 02 xe ô tô biển số 71N-1331 và xe ô tô biển số 51H-718.35 hư hỏng nặng; 02 xe hư hỏng nhẹ gồm xe ô tô biển số 72A-371.46 và xe ô tô biển số 85C-036.67, tổng giá trị tài sản bị thiệt hại 343.130.999 đồng; không có thiệt hại về người.
Hành vi của bị cáo Hà Thanh T đã vi phạm vào khoản 1 Điều 12 và khoản 2 Điều 26 Luật giao thông đường bộ. Bị cáo biết và pháp luật buộc bị cáo phải biết khi tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân theo các quy định về luật giao thông đường bộ. Thế nhưng trong lúc điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS: 51C-740.74 kéo theo sơmirơmóoc biển số 51R-339.57 lưu thông trên Cao tốc TP Hồ Chí Minh- T- M, hướng Tiền Giang đi TP . đã vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, bị cáo không giử khoảng cách an toàn khi đánh lái xe sang phải cho xe vượt lên các xe ô tô phía trước cùng chiều đang dừng do bị kẹt xe dẫn đến va chạm vào 04 xe ô tô làm hư hỏng nặng với tổng giá trị tài sản bị thiệt hại 343.130.999 đồng.
Hành vi của bị cáo Hà Thanh T đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Long An truy tố bị cáo theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
Hành vi của bị cáo Hà Thanh T cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp tương xứng mức độ hành vi mà bị cáo gây ra mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Hà Thanh T phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Hà Thanh T có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho các bị hại, các bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự
. Xét thấy bị cáo Hà Thanh T có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; do đó việc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương đối với bị cáo cũng có tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự thì hành vi phạm tội của bị cáo Hà Thanh T còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Tuy nhiên, xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Xét đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo đối với bị cáo Hà Thanh T phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
- Trả lại cho bị cáo Hà Thanh T 01 giấy phép lái xe hạng FC, số: 790990223702 do Sở G cấp ngày 23/09/2019 có giá trị đến 19/9/2023.
- Xe ô tô đầu kéo biển số 51C-740.74 kéo theo sơmirơmóoc biển số 51R-0339.57 thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần T3; 01 giấy đăng ký xe và 01 giấy đăng ký kiểm định ô tô đầu kéo biển số 51C-740.74 kéo theo sơmirơmóoc biển số 51R-0339.57. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả xe cho ông Phan Quốc C2 là đại diện ủy quyền Công ty T3 xong nên không xem xét.
- Xe ô tô con biển số 72A-371.46; 01 giấy đăng ký xe và 01 giấy đăng ký kiểm định thuộc sở hữu của Hà Hùng Đ1; 01 giấy phép lái xe hạng C số 770036022285 tên Hà Hùng Đ1. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả xe và giấy tờ xe cho chủ sở hữu xong nên không xem xét.
- Xe ô tô tải biển số 85C-036.67; 01 giấy đăng ký xe và 01 giấy đăng ký kiểm định thuộc sở hữu của Trần Thị C1. Cơ quan CSĐT Công an huyện B trả xe và giấy tờ xe cho Trương Quốc K là đại diện ủy quyền chủ sở hữu; 01 giấy phép lai xe hạng E, số 790070008072 cho Trương Quốc K xong nên không xem xét.
- Xe ô tô bán tải biển số 71N-1331; 01 giấy đăng ký xe và 01 giấy đăng ký kiểm định thuộc sở hữu của Nguyễn Thành L. Cơ quan CSĐT Công an huyện B trả xe và giấy tờ xe cho Lê Quang M là đại diện ủy quyền của chủ sở hữu xong nên không xem xét.
- Xe ô tô con biển số 51H-718.35 thuộc sở hữu của Công ty TNHH MTV C3-Chi nhánh T2. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã trả xe cho ông Phạm Hồng C đại diện ủy quyền của Công ty TNHH MTV C3 thuê tài chính Ngân hàng TMCP C3 (bên cho thuê) và Công ty Cổ phần Á (V) (bên thuê tài chính); trả 01 giấy phép lái xe hạng B2 số 790138025074 cho Nguyễn Phương Đ2 xong nên không xem xét.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hà Thanh T và đại diện Công ty T3 bồi thường chi phí sửa xe cho Phạm Hồng C đại diện cho xe ô tô 51H-718.35 số tiền 150.000.000 đồng; bồi thường cho Lê Quang M đại diện chủ xe ô tô biển số 71N-1331, số tiền 100.000.000đ. Hai bên đã nhận đủ tiền và không yêu bồi thường gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ, bãi nại cho bị cáo. Đối vối ông Trương Quốc K và ông Hà Hùng Đ1 không yêu cầu bị cáo Hà Thanh T bồi thường nên không xem xét.
. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Hà Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Hà Thanh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 2, Điều 4, Điều 6 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Điều 1 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Xử phạt: Bị cáo Hà Thanh T 02 (hai) năm tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (bốn) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Hà Thanh T về Ủy ban nhân dân xã C, huyện G, tỉnh Bến Tre giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Hà Thanh T có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp bị cáo Hà Thanh T thay đổi nơi cư trú thì áp dụng Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Trả lại cho bị cáo Hà Thanh T 01 giấy phép lái xe hạng FC, số: 790990223702 do Sở G cấp ngày 23/09/2019 có giá trị đến 19/9/2023.
(Vật chứng trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện B đang tạm giữ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/01/2024).
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Hà Thanh T nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước.
4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện B; - Sở Tư pháp Bến Tre; - Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện B; - Chi cục Thi hánh án dân sự huyện B; - Bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Kim Thảnh |