- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn Trần Thị K và bị đơn Trần V.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22/7/2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thúy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Liên và ông Lê Thanh Tâm
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Như Ý – Thư ký TAND huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
Đại diện VKSND huyện Tây Hòa tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Thị Hàn Ni – Kiểm sát Viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 175/2024/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Trần Thị K, sinh năm 1995; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Bị đơn: Trần V, sinh năm 1989; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn M, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên.
Người làm chứng: Trần Quang M, sinh năm 1970; Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Q, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Trần Thị K trình bày: Bà Trần Thị K và ông Trần V tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S vào ngày 20/12/2016. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau, hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Mặc dù hai bên gia đình cố gắng khuyên ngăn nhiều lần nhưng hai vợ chồng sống không hạnh phúc.
Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay, không ai quan tâm ai, mạnh ai nấy sống. Nay bà K nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không tồn tại nên bà K yêu cầu được ly hôn với ông Trần V.
Về con chung: Có 02 con chung tên Trần Bình Bảo C, sinh ngày 16/01/2018 và Trần Bình Bảo Đ, sinh ngày 02/5/2021, hiện nay 02 con chung do bà K trực tiếp nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà K yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi 02 con chung. Hiện nay, bà K là nhân viên bán hàng tại siêu thị thu nhập bình quân mỗi tháng là 20.000.000đ nên đủ khả năng nuôi con và không yêu cầu ông Trần V cấp dưỡng nuôi 02 con chung.
Về tài sản: Bà K không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về án phí: Bà K tự nguyện chịu theo quy định.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Trần V có đơn trình bày: Về quan hệ hôn nhân và con chung đúng như bà K trình bày. Nay bà K xin ly hôn ông V thống nhất ly hôn với bà K, thống nhất giao 02 con chung tên Trần Bình Bảo C, sinh ngày 16/01/2018 và Trần Bình Bảo Đ, sinh ngày 02/5/2021 cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng, bà K không yêu cầu ông V cấp dưỡng nuôi con chung, ông V thống nhất không có ý kiến gì, về tài sản ông V không yêu cầu Tòa án giải quyết, tuy nhiên ông V không đến Tòa án nên không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Hòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và các đương sự đã tuân thủ và thực hiện đúng theo quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn và người làm chứng vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, Điều 55, Điều Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, công nhận sự thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn và bị đơn, giao 02 con chung tên Trần Bình Bảo C, sinh ngày 16/01/2018 và Trần Bình Bảo Đ, sinh ngày 02/5/2021 cho nguyên đơn bà K trực tiếp nuôi dưỡng, ông V không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Về án phí đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các đương sự tranh chấp về ly hôn, là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn Trần V có nơi cư trú hiện nay tại: Thôn M, xã S, huyện T, tỉnh Phú Yên, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
[1.2] Nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người làm chứng theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Trần Thị K và bị đơn Trần V tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Sơn Thành Đông vào ngày 20/12/2016 là hôn nhân hợp pháp. Bà K khai trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi nhau và sống ly thân từ đầu năm 2022 đến nay. Mâu thuẫn giữa vợ chồng ngày càng trầm trọng, mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm ai, lời khai của ông Trần Quang M là cha ruột của bà K cũng trình bày vợ chồng bà K và ông V xảy ra nhiều mâu thuẫn, đã sống ly thân từ đầu năm 2022 cho đến nay và bị đơn ông V cũng có ý kiến thống nhất ly hôn.
Như vậy, đủ cơ sở xác định, mâu thuẫn giữa bà K và ông V đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử ghi nhận việc thuận tình ly hôn giữa bà K và ông V như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ.
[2.2] Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Xét thấy, 02 con chung tên Trần Bình Bảo C, sinh ngày 16/01/2018 và Trần Bình Bảo Đ, sinh ngày 02/5/2021, lâu này đã quen sống cùng bà K, hơn nữa 02 cháu còn nhỏ. Nguyên đơn và bị đơn cũng thống nhất giao 02 con chung tên Trần Bình Bảo C, sinh ngày 16/01/2018 và Trần Bình Bảo Đ, sinh ngày 02/5/2021 cho nguyên đơn Trần Thị K trực tiếp nuôi dưỡng. Bị đơn ông Trần V không phải cấp dưỡng nuôi 02 con chung. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của hai bên đương sự, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.3] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên không xét.
[3] Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu án phí nên ghi nhận, bà K phải chịu 150.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình về tranh chấp ly hôn được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí mà nguyên đơn đã nộp tại phiếu thu số 0000946 ngày 28/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Hòa nên hoàn lại cho nguyên đơn 150.000đ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn Trần Thị K và bị đơn Trần V.
2. Về con chung: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa nguyên đơn Trần Thị K và bị đơn Trần V về việc: Giao 02 con chung tên Trần Bình Bảo C, sinh ngày 16/01/2018 và Trần Bình Bảo Đ, sinh ngày 02/5/2021 cho nguyên đơn Trần Thị K trực tiếp nuôi dưỡng.
Bị đơn Trần V không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Nguyên đơn Trần Thị K phải chịu 150.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm về yêu cầu xin ly hôn được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000946 ngày 28/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên, nên hoàn lại cho nguyên đơn Trần Thị K 150.000đ.
4. Về kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Phú Yên; - CC THADS huyện Tây Hòa; - VKSND huyện Tây Hòa; - UBND xã Sơn Thành Đông; CNKH số 82/2016); - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Thị Kim Thúy |