- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Quang T và các bị cáo khác - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? sự đối với các bị cáo Hu nh uang T, Ngô Thanh H, Lương Văn C2; Điểm i khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lương Văn C2.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 157 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2023/HSST Ngày: 28/8/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HOÀ
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH,
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
TỈNH KHÁNH HOÀ
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiếu
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Minh
* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh
Bà Nguyễn Thị Thu Thảo
* Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Bùi Thị Thu Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Tr n H u uân u nh – Thư ký Tòa án nhân dân
2/ Ông Trần Tá thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.
* Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Hữu Xuân
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham gia phiên
Quỳnh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh.
toà: Ông Lê uang Khải - Kiểm sát viên.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham
Ngày 28 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cam
gia phiên toà: Ông Lê Quang Khải - Kiểm sát viên.
Ranh – tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 72/2023/HSST ngày 13 tháng 7 năm 2023 theo uyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2023/ Đ ST-HS ngày 24 tháng 7 năm 2023, uyết định hoãn phiên tòa số: 38/2023/ ĐST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2023, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Hu nh uang T, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1990, tại C,
Khánh Hòa; Giới tính: Nam; uốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nơi cư trú: Thôn , xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Con ông: Hu nh C và bà: Nguyễn Thị Thanh T1; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo không bị tạm gi , tạm giam. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Ngô Thanh H, sinh ngày 14 tháng 02 năm 2001, tại C,
Khánh Hòa; Giới tính: Nam; uốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Cao đài; Nơi cư trú: Thôn H, xã C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông: Ngô Văn C1 và bà: Hu nh Thị G; Chưa có vợ, con; Tiền án: Không có;
Tiền sự: Ngày 15/10/2020, Tòa án nhân dân Thành phố Cam Ranh ra
quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 49/2020/ Đ-TA, chấp hành xong ngày 08/7/2021.
Nhân thân: Ngày 18 tháng 02 năm 2022, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an thành phố C ra uyết định khởi tố bị can số 40/ Đ-ĐCSHS về tội “Tổ chức đánh bạc”.
Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 12 tháng 12 năm 2022 đến nay, có mặt tại
phiên tòa.
3. Họ và tên: Lương Văn C2, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1997, tại huyện
S, tỉnh Tuyên uang; Giới tính: Nam; uốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện S, tỉnh Tuyên uang; Trình độ văn hóa: 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lương Văn N và bà: Phạm Thị M; Chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo không bị tạm gi , tạm giam, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Ông Võ Văn C3, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn Q, xã C, thành
phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lê Đình T2, sinh
năm 1998; Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
1. Ông Hu nh uốc T3, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Tổ dân phố H,
phường C, thành phố C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Ông Đào uân D, sinh năm: 1974; Nơi cư trú: Thôn , xã C, thành phố
C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
3. Bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1959; Nơi cư trú: Thôn , xã C, thành phố
C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 3 năm 2022, Hu nh uang T cho Võ Văn C3 vay
95.000.000 đồng. Sau đó, C3 không trả tiền cho T và đi vào Thành phố Hồ Chí Minh. Đến tháng 4 năm 2022, T gặp Ngô Thanh H nên T nói cho H biết việc C3 có nợ tiền và nói H nếu thấy C3 thì gọi báo cho T biết để đòi nợ. H đồng ý.
Khoảng 15 giờ ngày 23/7/2022, Ngô Thanh H cùng Lê Đình T2 chơi bi da
tại quán H1, ở tổ dân phố H, phường C, thành phố C. H thấy C3 đang chơi bi da cùng với Đào uân D tại quán nên H điện thoại nói cho T biết. T đang ở cùng với Lương Văn C2 nên rủ C2 đi cùng.
Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T điều khiển xe ô tô 79A-241.23 chở C2 đi
đến quán H2 H thấy T đi vào trong quán bi da thì đi đến chỗ C3 dùng tay kẹp cổ C3 nói đi ra ngoài. T và C2 cũng vừa đi đến chỗ C3. T dùng tay đánh một cái vào đ u C3 nhưng không gây thương tích, T c m một trái bi da trên tay định đánh C3 thì được H cản lại. T nói “Chở nó về nhà”. C2 thấy C3 c m một cây cơ bi da trên tay nên đến giật lấy rồi kéo C3 đi ra khỏi quán. Lúc này, H dùng tay kẹp cổ C3, T dùng tay trái đẩy C3, C2 dùng tay kéo tay C3 đi. Còn Thông lúc này đi tính tiền.
Khi ra đến xe ô tô đang đậu trước quán bi da, T nói “Đưa nó lên xe và dẫn
về nhà”. T kéo tay C3 đi trước đến mở cửa sau xe. H đẩy C3 lên xe và ngồi bên trái C3, C2 đến ngồi bên phải C3. T lên lái xe và nói vói C3 dẫn về cho mẹ C3 để đòi tiền. Đi được 50m thì H gọi điện thoại cho T2 ra đi cùng. T2 lên xe ngồi ở ghế phụ. Cả nhóm đi về nhà C3 ở thôn , xã C, thành phố C để gặp bà Nguyễn Thị P (mẹ C3) để đòi nợ.
Khi về đến nhà C3, T yêu c u bà P trả tiền nhưng do không có tiền để trả
nên bà P hẹn ngày hôm sau gặp để trả lời. Sau đó, nhóm T bỏ đi.
Tại Bản cáo trạng số 36/CT-VKSCR-HS ngày 05 tháng 4 năm 2023, Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố các bị cáo Hu nh uang T, Ngô Thanh H, Lương Văn C2 tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát gi quyền công tố tại phiên tòa vẫn
gi nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Hu nh uang T, Ngô Thanh H, Lương Văn C2 và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
- Áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ
luật hình sự đối với các bị cáo Hu nh uang T, Ngô Thanh H, Lương Văn C2.
- Áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với các bị
cáo Hu nh uang T, Lương Văn C2.
- Áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lương Văn
C2.
- Đề nghị xử phạt các bị cáo như sau:
+ ử phạt bị cáo Hu nh uang T từ 09 tháng đến 1 năm tù;
+ ử phạt bị cáo Ngô Thanh H từ 09 tháng đến 1 năm tù;
+ ử phạt bị cáo Lương Văn C2 từ 06 tháng đến 09 tháng tù, cho hưởng
án treo, thời gian thử thách từ 1 năm đến 01 năm 09 tháng;
Về xử lý vật chứng: lưu hồ sơ vụ án các vật chứng:
- 01 đĩa DVD hiệu Maxwell DVD-R, lưu tr d liệu điện tử 03 file hình
ảnh camera ghi hình tại Câu lạc bộ Bi da H3
- 01 đĩa DVD hiệu Maxwell DVD-R, lưu tr d liệu điện tử 03 file hình
ảnh camera ghi hình tại nhà bà Nguyễn Thị P.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu c u bồi thường nên không xét.
Đối với Lê Đình T2 không tham gia cùng với Hu nh uang T, Ngô
Thanh H, Lương Văn C2 bắt Võ Văn C3 nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo Hu nh uang T, Ngô Thanh H, Lương Văn C2
đều thừa nhận hành vi phạm tội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ
vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra truy tố xét xử; Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ và thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. uá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Tại phiên tòa vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và
người làm chứng nhưng việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên quyết định xét xử vắng mặt.
Trong hồ sơ và tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 16 giờ ngày 23/7/2022, tại quán H1 ở tổ dân phố H, phường C, thành phố C; Hu nh uang T, Ngô Thanh H, Lương Văn C2 có hành vi bắt Võ Văn C3 về nhà của C3 ở thôn , xã C, thành phố C để bà Nguyễn Thị P (mẹ của C3) trả nợ thay cho C3. Do đó, hành vi của các bị cáo Hu nh uang T, Ngô Thanh H, Lương Văn C2 đủ cơ sở cấu thành tội “Bắt người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đối với các bị cáo Hu nh uang T, Ngô Thanh H, Lương Văn C2 là có căn cứ, đúng pháp luật.
Ngoài ra, hành vi của Lê Đình T2 có dấu hiệu đồng phạm với các bị
cáo về tội “Bắt người trái pháp luật” theo khoản 1 Điều 157 của Bộ luật hình sự, Tòa án nhân dân Thành phố Cam Ranh đã nhiều l n trả hồ sơ yêu c u điều tra bổ sung, tiến hành xử lý hình sự đối với Lê Đình T2 theo quy định. Tuy nhiên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Cam Ranh vẫn gi nguyên bản cáo trạng, không truy tố đối với Lê Đình T2 nên nằm ngoài giới hạn xét của của Tòa án theo Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an Thành phố C tiếp tục điều tra để xem xét việc xử lý hình sự đối với Lê Đình T2 theo quy định.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm nghiêm
trọng đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương nên c n thiết phải xử lý về hình sự và áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung là phù hợp. Các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn, Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ của hành vi cụ thể từng bị cáo thực hiện như sau:
Bị cáo Hu nh uang T: Bị cáo là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo
khác thực hiện hành vi phạm tội. Khi đồng bọn bắt gi Chí thì bị cáo tham gia với vai trò giúp sức. Hành vi của bị cáo có tính nguy hiểm cao hơn so với các bị cáo khác.
Bị cáo Ngô Thanh H: Bị cáo là người đồng phạm với các bị cáo
trong việc bắt Võ Văn C3 với vai trò người thực hành tích cực, thực hiện hành vi đe dọa và kẹp cổ C3 đưa lên xe nên mức nguy hiểm của hành vi hạn chế hơn so với bị cáo T, nhưng nguy hiểm cao hơn bị cáo C2.
Bị cáo Lương Văn C2: Sau khi thay được sự việc T, H bắt C3 nhưng
không ngăn cản mà cũng tham gia kéo tay C3 đi lên xe nên bị cáo tham gia với vai trò giúp sức. Hành vi của bị cáo có tính nguy hiểm hạn chế hơn các bị cáo T, H.
Ngoài ra, cũng c n xem xét các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ thái
độ ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại; nên có thể áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo được bị hại xin bãi nại, giảm nhẹ hình phạt; nhân thân bị cáo T chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội l n đ u nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với Lương Văn C2 phạm tội l n đ u và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên có thể áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân
thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy nên cách ly các bị cáo T và H khỏi xã hội một thời gian đủ tác dụng cải tạo các bị cáo và phòng ngừa chung. Đối với bị cáo Lương Văn C2 có thể áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự, cho hưởng án treo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu c u nên không xem xét.
Về án phí: Các bị cáo Hu nh uang T, Ngô Thanh H, Lương Văn C2
phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 157; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình
sự đối với các bị cáo Hu nh uang T, Ngô Thanh H, Lương Văn C2; Điểm i khoản 1 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lương Văn C2.
- Điều 106, Điều 260 và 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTV H14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của
Ủy ban Thường vụ uốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Hu nh uang T, Ngô Thanh H, Lương Văn C2
phạm tội “Bắt người trái pháp luật”.
2. ử phạt các bị cáo như sau:
- ử phạt bị cáo Hu nh uang T 10 (mười) tháng tù. Thời hạn phạt tù
được tính kể từ ngày bắt thi hành án.
- ử phạt bị cáo Ngô Thanh H 8 (tám) tháng 20 (hai mươi) ngày tù. Thời
hạn phạt tù được tính kể từ ngày 12 tháng 12 năm 2022.
- ử phạt bị cáo Lương Văn C2 08 (tám) tháng tù, cho hưởng án treo, thời
hạn thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 28/8/2023.
Giao bị cáo Lương Văn C2 cho UBND xã H, huyện S, tỉnh Tuyên uang
để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo Lương Văn C2 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện
theo quy định tại Điều 68 và Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa
vụ 02 l n trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Các bị cáo mỗi người phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm
nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn
15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa. - VKSND tỉnh Khánh Hòa. - Sở tư pháp tỉnh Khánh Hòa - VKSND TP. Cam Ranh. - Chi cục THADS TP. Cam Ranh. - Công an TP. Cam Ranh. - Bị cáo, bị hại, NC LNVL . - Chánh án TAND tỉnh Khánh Hòa. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hiếu |