- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lương Văn S phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt: Bị cáo Lương Văn S 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/5/2023.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59 /2023/HSST Ngày 17/ 8 /2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲ HỢP, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – chủ toạ phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hường
Bà Trương Thị Bích Hiệp.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Phan Văn Vận – Thư ký Toà án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Vi Ngọc Sơn– Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 17 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 51/TLST-HS ngày 02 tháng 08 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66 /2023/QĐST–HS ngày 04 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lƣơng Văn S; tên gọi khác: Không
Sinh năm 1982 tại huyện Q, tỉnh Nghệ An;
Nơi cư trú: Xóm T, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không; Con ông: Lương Văn H; Con bà: Vi Thị T; Vợ: Lương Thị B; Con: 03 người, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/5/2023 đến nay, tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Nghệ An.
(Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 17 giờ 00 phút, ngày 23/5/2023, tại xóm N, xã C, huyện Q, công an huyện Quỳ Hợp phát hiện bắt quả tang Lương Văn S đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Kiểm tra thu giữ của Lương Văn S 01 (một) gói thuốc lá, nhãn hiệu Thăng Long, bên trong có 01 (một) túi nilon màu trắng chứa 04 (bốn) viên nén màu hồng (nghi ma túy), 01 (một) túi polyetylen màu trắng, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (nghi ma túy), 01 (một) túi polyetylen màu đỏ chứa chất bột nén màu trắng (nghi ma túy). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lương Văn S.
Cơ quan điều tra đã tiến hành mở niêm phong cân, xác định khối lượng và lấy mẫu đi giám định:
- Túi thứ nhất: túi polyetylen màu đỏ bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (nghi ma túy) có khối lượng 0,205 (không phẩy hai linh năm) gam, lấy 0,09 (không phẩy không chín) gam đi giám định, ký hiệu M1. Còn lại 0,115 (không phẩy một trăm mười lăm) gam.
- Túi thứ hai: túi polyetylen màu trắng, bên trong có 04 (bốn) viên nén màu hồng (nghi ma túy) có khối lượng 0,405 (không phẩy bốn trăm linh năm) gam, lấy 01(một) viên nén màu hồng có khối lượng 0,1 (không phẩy một) gam, ký hiệu M2. Còn lại 0,305 (không phẩy ba trăm linh năm) gam.
- Túi thứ ba: Túi polyetylen màu trắng bên trong có chứa chất bột nén màu trắng có khối lượng 1,355 (một phẩy ba trăm năm mươi lăm) gam, lấy 0,215 (không phẩy hai trăm mười lăm) gam đi giám định, ký hiệu M3. Còn lại 1,14 (một phẩy mười bốn) gam.
Còn lại sau khi lấy mẫu đi giám định 1,255 (một phẩy hai trăm năm mươi lăm) gam chất bột nén màu trắng; 0,305 (không phẩy ba trăm linh năm) gam viên nén màu hồng và vỏ bao niêm phong được niêm phong trong một phong bì thư do Công an huyện Quỳ Hợp phát hành.
Tại bản Kết luận giám định số 553/KL-KTHS (Đ2 –MT), ngày 30/5/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An kết luận:
Mẫu chất bột nén màu trắng (ký hiệu M1, M3) thu giữ của Lương Văn Sáo gửi đến giám định đều là ma túy; loại heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 và nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất bột nén màu trắng thu giữ của Lương Văn S có khối lượng 1,560 (một phẩy năm trăm sáu mươi) gam.
Mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M2) thu giữ của Lương Văn S gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,405 (không phẩy bốn linh năm) gam.
Bản cáo trạng số 58 /CT-VKSHS ngày 31/7/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Lương Văn S khai nhận: Bản thân là người nghiện chất ma túy, nguồn gốc số ma túy mà S có được là vào 07 giờ, ngày 23/5/2023, S xin đi nhờ xe của một người đàn ông không quen biết lên huyện Q tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực chân dốc P, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An thì S xuống xe, thấy bên đường có một người đàn ông không quen biết đang sử dụng ma túy nên S đã đi vào xin dùng chung và hỏi mua số ma túy, người đàn ông đồng ý bán cho Sáo: 04 viên nén màu hồng (ma túy hồng phiến); 01 túi polyetylen màu trắng, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (ma túy heroine) và 01 túi polyetylen màu đỏ, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (ma túy heroine) với giá 700.000đ. Tất cả số ma túy trên được người đàn ông bỏ vào 01 gói thuốc lá, nhãn hiệu Thăng Long và đưa cho S. Sau khi mua được ma túy thì S cầm số ma túy trên tay và bắt xe ôm của một người đàn ông không quen biết đi về. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì S về đến địa phận xóm N, xã C, huyện Q. Khi S đang chuẩn bị sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Quỳ Hợp phát hiện bắt quả tang. Bị cáo Lương Văn S nhất trí với cáo trạng của VKSND huyện Quỳ Hợp truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh và điều luật như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn S từ 20 tháng tù đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: - Vỏ bao niêm phong, các mảnh giấy gói; 1,255 (một phẩy hai trăm năm mươi lăm) gam ma túy heroine và 0,305 (không phẩy ba trăm linh năm) gam ma túy Methaphetamine thu giữ của Lương Văn S vào ngày 23/5/2023 tại xã C, huyện Q đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) chiếc điện thoại bàn phím, nhãn hiệu Nokia, màu đen; số seri: 352182860977529, gắn sim số 84349210528, thu giữ của Lương Văn S, điện thoại đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo đề nghị trả lại cho chủ sở hữu;
Theo lời khai của bị cáo Lương Văn S thì về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do S mua với một người đàn ông không quen biết về để sử dụng. Do không xác định danh tính, lai lịch của người này nên không có căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự.
Bị cáo Lương Văn S nói lời nói sau cùng: Bị cáo biết việc làm của mình là sai trái mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Quỳ Hợp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa bị cáo Lương Văn S hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng. Lương Văn S khai nhận, là người nghiện chất ma túy vào 07 giờ, ngày 23/5/2023, Sáo đi lên đến khu vực chân dốc P, xã C, huyện Q mua với một người đàn ông không quen biết được 04 viên nén màu hồng (ma túy hồng phiến); 01 túi polyetylen màu trắng, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (ma túy heroine) và 01 túi polyetylen màu đỏ, bên trong có chứa chất bột nén màu trắng (ma túy heroine) với giá 700.000đồng đưa về nhà để sử dụng thì bị bắt quả tang. Lời khai nhận của bị cáo Lương Văn S tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, vật chứng được thu giữ, gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 23/5/2023; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ ngày 23/5/2023; Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 23/5/2023; Tại bản kết luận giám định số số 553/KL-KTHS (Đ2 –MT), ngày 30/5/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu chất bột nén màu trắng (ký hiệu M1, M3) thu giữ của Lương Văn S gửi đến giám định đều là ma túy; loại heroine, có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 và nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 28/5/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất bột nén màu trắng thu giữ của Lương Văn S có khối lượng 1,560 (một phẩy năm trăm sáu mươi) gam. Mẫu viên nén màu hồng (ký hiệu M2) thu giữ của Lương Văn S gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,405 (không phẩy bốn linh năm) gam. Do đó, có đủ căn cứ xác định hành vi trên của Lương Văn S đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lương Văn S cất dấu ma túy khối lượng 1,560 gam heroine và khối lượng là 0,405 gam (Methamphetamine) để nhằm mục đích sử dụng. Do đó, bị cáo Lương Văn S bị xét xử và phải chịu khung hình phạt theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự, như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳ Hợp là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Hành vi của bị cáo Lương Văn S đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý nhà nước về chất ma tuý. Vụ án xảy ra còn gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Nên cần lên cho bị cáo mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần phải xem xét giảm nhẹ một phần vì: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng điểm s khoản Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Lương Văn S.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo đang bị tạm giam, trước khi phạm tội bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng vụ án: Vỏ bao niêm phong, các mảnh giấy gói; 1,255 (một phẩy hai trăm năm mươi lăm) gam ma túy heroine và 0,305 (không phẩy ba trăm linh năm) gam ma túy Methaphetamine thu giữ của Lương Văn S là vật nhà nước cấm cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 (một) chiếc điện thoại bàn phím, nhãn hiệu Nokia, màu đen; số seri: 352182860977529, gắn sim số 84349210528, thu giữ của Lương Văn S, điện thoại đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo cần trả lại cho chủ sở hữu;
Về án phí: Bị cáo Lương Văn S chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Lương Văn S 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/5/2023.
Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: Vỏ bao niêm phong, các mảnh giấy gói; 1,255 (một phẩy hai trăm năm mươi lăm) gam ma túy heroine và 0,305 (không phẩy ba trăm linh năm) gam ma túy Methaphetamine thu giữ của Lương Văn S.
Trả lại cho bị cáo Lương Văn S 01 (một) chiếc điện thoại bàn phím, nhãn hiệu Nokia, màu đen; số seri: 352182860977529, gắn sim số 84349210528, điện thoại đã qua sử dụng.
Đặc điểm chi tiết vật chứng được phản ánh tại biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 01/8/2023, giữa Công an huyện Quỳ Hợp và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Quỳ Hợp.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XIV.
Bị cáo Lương Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án 17/08/2023.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An, - Sở tư pháp tỉnh Nghệ An, - VKSND tỉnh Nghệ An; - Trại tạm giam CA tỉnh Nghệ An; -VKSND huyện Quỳ hợp, - Cơ quan điều tra CA huyện Quỳ hợp, - THADS huyện Quỳ hợp, - Bị cáo; - lưu | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Quán Vi Tuấn |