vanban.org

Bản án 59/2023/HSST — Hình sự

TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam Tuyên án 17/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DUY TIÊN
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HSST
Ngày 17 - 8 – 2023

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUY TIÊN - HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Đông.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quốc Phòng.

Ông Nguyễn Văn Hoằng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: bà Ngô Thị Thanh Quý - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2023/HSST ngày 19 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2023/QĐXX-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023, đối với:

- Bị cáo Nguyễn Văn T, sinh năm 1975; tên gọi khác: Không; nơi cư trú: Tổ dân phố số 4, phường Hòa M, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trung T và bà Nguyễn Thị Đ; vợ: Phạm Thị D; con: 02 con( lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2008); tiền án: Ngày 24/12/2015, bị TAND huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS 1999, ra trại ngày 24/5/2021, chưa được xóa án tích; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 15/6/2012 bị Công an huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với hình thức “Cảnh cáo” về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị bắt tạm giữ ngày 21/5/2023, chuyển tạm giam ngày 27/5/2023 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Vũ Văn S, sinh năm 1988; địa chỉ: Tổ dân phố số 3, phường Hòa Mạc, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

- Người chứng kiến: Bà Phạm Thị Th; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 12 giờ 30 ngày 21/5/2023, tổ công tác Công an phường Châu Giang, thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam tiến hành tuần tra đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn phường. Khi đến đoạn đường Trần Bình Trọng thuộc tổ dân phố Phúc Thành, phường Châu Giang, tổ công tác đã phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn T đang cầm ở tay trái 01 túi nilon màu trắng, bề mặt có ghi dòng chữ “Bơm tiêm sử dụng 01 lần”, bên trong có 01 gói nhỏ giấy bạc màu vàng, kích thước khoảng (1,5x1,2)cm, trong gói giấy bạc có chứa chất màu trắng dạng cục, bột, T khai là ma túy, loại Heroine mua về sử dụng. Tổ công tác đã bắt giữ T và thu giữ các vật chứng có liên quan.

Vật chứng thu giữ gồm: Thu ở tay trái Nguyễn Văn T: 01 túi nilon màu trắng, bề mặt có ghi dòng chữ “Bơm tiêm sử dụng 01 lần”, bên trong có 01 gói nhỏ giấy bạc màu vàng, kích thước khoảng (1,5x1,2)cm, trong gói giấy bạc có chứa chất màu trắng dạng cục, bột được niêm phong trong phương bì ký hiệu QT01.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên không thu giữ các đồ vật, tài liệu gì.

Tại bản kết luận giám định số 272/KL-KTHS ngày 25/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,162g, loại Heroine.

Về nguồn gốc ma túy, Nguyễn Văn T khai nhận: Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 12 giờ ngày 21/5/2023, T đi bộ từ nhà ở tổ dân phố 4, phường Hòa M, thị xã Duy T, đến ngã tư đường Trần Bình Trọng thuộc tổ dân phố Phúc Th, phường Châu Gi, thị xã Duy T để gặp nam thanh niên tên là S con ông Qu ở phường Hòa M, thị xã Duy T mục đích để mua ma túy về sử dụng. Khi gặp S, T hỏi mua của S mua 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 200.000 đồng. Do T chỉ có 20.000 đồng nên xin S cho nợ 180.000 đồng thì S đồng ý. T đưa cho S 20.000 đồng, S cầm tiền T đưa và đưa lại cho T 01 túi nilon màu trắng, loại túi đựng bơm kim tiêm, bên trong túi nilon có 01 gói nhỏ giấy bạc màu vàng, T biết đó là gói ma túy, loại Heroine nên cầm ở lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà, đi được 01 đoạn thì bị lực lượng công an kiểm tra phát hiện, lập biên bản thu giữ vật chứng và đưa T về trụ sở làm việc.

Cáo trạng số 62/CT-VKS- DT ngày 19/7/2023, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Văn T mức án từ 24(Hai mươi bốn) đến 30(Ba mươi) tháng tù về tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 21/5/2023.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo, ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và tuyên án phí đối với bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt ngoài ra không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử(HĐXX) nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 21/5/2023, tại tổ dân phố Phúc Th, phường Châu Gi, thị xã Duy T, tỉnh Hà Nam, Nguyễn Văn T đang có hành vi tàng trữ 01 gói ma túy có khối lượng 0,162g, loại Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường Châu Giang kiểm tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ các vật chứng liên quan.

Hành vi nêu trên của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Hành vi đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu.

+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã có 01 tiền án chưa được xóa án tích đến nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bố đẻ của bị cáo là người có công với cách mạng, được tặng huy chương chiến sỹ vẻ vang nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

Hình phạt chính: Bị cáo là người nghiện ma túy, có nhân thân xấu, từng bị kết án nhưng không chịu tu dưỡng, cải sửa nên cần phải ấn định mức hình phạt nghiêm khắc cách ly khỏi xã hội đủ để bị cáo có thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về các tình tiết khác:

Đối với người nam thanh niên tên S mà T khai đã bán ma túy cho mình, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên đã tiến hành xác minh, xác định người này tên Vũ Văn S, sinh năm 1988, cư trú tại tổ dân phố số 3, phường Hòa M, thị xã Duy T và triệu tập S đến làm việc, tổ chức đối chất giữa Vũ Văn S và Nguyễn Văn T. Tuy nhiên, S khẳng định ngày 21/5/2023, S không gặp T, không bán ma túy cho T. Ngoài lời khai của T ra thì không còn tài liệu, chứng cứ khác chứng minh nội dung T khai báo là có căn cứ. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thị xã Duy Tiên không có căn cứ xử lý đối với Vũ Văn S theo quy định.

Về vật chứng vụ án:

Đối với 01 phong bì niêm phong có số 272/KTHS có ba dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hà Nam là vật chứng cấm lưu hành cần tịch thu cho tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đương sự khác thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Từ nhận định trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Về hình sự.

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Nguyễn Văn T 24(Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/5/2023.

2. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu cho tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong có số 272/KTHS mặt sau có ba dấu giáp lai của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Hà Nam.

(Đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận giữa Công an thị xã Duy Tiên và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Duy Tiên ngày 19/7/2023).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ