- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương T phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ C TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2023/HS-ST Ngày: 12-4-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ C, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Thắm;
2. Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 3 năm 2023, đối với bị cáo:
Dương T, sinh năm 1981 tại Hải Phòng; hộ khẩu thường trú: 12/7C Lê T, phường 14, quận V, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Khu phố 2, phường Đ, thị xã C, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương V, sinh năm 1958 và bà Nguyễn H, sinh năm 1962; vợ Lương N, sinh năm 1994 và có 02 con lớn nhất sinh năm 2011 và nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án: Ngày 10/3/2005, bị Tòa án nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 01/7/2007, chấp hành xong án phí, chưa chấp hành về phần trách nhiệm dân sự; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 20/4/2011, bị cáo bị Công an Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nộp phạt ngày 20/4/2011; ngày 07/10/2022, bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã C cho đến nay; bị cáo có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương T bắt đầu sử dụng ma túy đá (Methamphetamine) từ tháng 10/2021. Khoảng 21 giờ 00 ngày 07/10/2022, T điều khiển xe mô tô biển số 70B1-673.47 đi từ phòng trọ của mình tại phường Đ, thị xã C, tỉnh Bình Dương đến khu vực Lò Heo thuộc huyện C, thành phố Hồ Chí Minh gặp 01 nam thanh niên không rõ lai lịch mua được 02 (hai) gói ma túy đá với giá 400.000 đồng. T cầm 02 gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô biển số 70B1-673.47 đi về phòng trọ của mình. Đến khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, T về đến khu vực chợ G thuộc khu phố 2, phường Đ thì bị lực lượng Công an phường Đ kiểm tra, phát hiện 02 gói nylon hàn kín chứa ma túy trong lòng bàn tay trái của T nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T.
Vật chứng thu giữ gồm: 02 (hai) gói nylon hàn kín có chứa tinh thể màu trắng; 01 xe mô tô hiệu Guida biển số 70B1-673.47. Theo Kết luận giám định số 469/KL-KKTHS (MT) ngày 14/10/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể (bị thu giữ) gửi giám định là ma túy, có khối lượng/trọng lượng: 0,4545 gam, loại Methamphetamine. Đối với xe mô tô nhãn hiệu GUIDA biển số 70B1-673.47, xe do anh Trần C (sinh năm 1957, hộ khẩu thường trú: khu phố 2, thị trấn C, tỉnh Tây Ninh) làm nghề kinh doanh xe máy đứng tên đăng ký. Anh Cang đã bán xe cho một người không rõ lai lịch. Ngày 07/10/2022, T mượn xe mô tô biển số 70B1-673.47 của bạn tên L (không rõ lai lịch) sử dụng đi mua ma túy. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đăng Báo Tuổi Trẻ thông báo tìm chủ sở hữu đối với xe mô tô xe mô tô biển số 70B1-673.47 nhưng không ai đến nhận.
Tại bản Cáo trạng số 72/CT-VKSBC ngày 29 tháng 3 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương đã truy tố: Bị cáo Dương T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như Cáo trạng số 72/CT-VKSBC ngày 29 tháng 3 năm 2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Dương T mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong ghi số 469/PC09 có chữ ký của Dương T (người chứng kiến), chữ ký Trần Hoàng Huy (bên trả mẫu); Đinh Công Tuấn (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương; Khối lượng vật niêm phong M = 0,4223gam (theo kết luận giám định số 469/KL – KTHS ngày 14/10/2022).
- Đối với xe mô tô biển số 70B1 – 673.47, số máy VTTJL1P150FMG006539, số khung mờ không rõ), xe do bị cáo mượn của đối tượng tên Lộc không rõ nhân thân lai lịch, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã tiến hành đăng báo để tìm chủ sỡ hữu nhưng không ai đến nhận, xe do bị cáo sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện Kiểm sát. Trong phần tranh luận tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của kiểm sát viên.
Lời sau cùng của bị cáo: Bị cáo Dương T mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập tại hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Lúc 23 giờ 15 phút ngày 07/10/2022, tại khu vực chợ Hoàng Gia thuộc khu phố 2, phường Đ, thị xã C, tỉnh Bình Dương, lực lượng Công an kiểm tra phát hiện Dương T có hành vi tàng trữ trái phép 0,4545 gam, loại Methamphetamine mà T vừa mua được đang cất giấu trong lòng bàn tay trái của T nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo Dương T đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Như vậy Bản cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã C, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Dương T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, phù hợp hoàn toàn với hành vi thực tế mà bị cáo đã gây ra.
Về tính chất, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về tính chất: Ma túy là chất được Nhà nước độc quyền quản lý, việc sử dụng trái phép, không đúng mục đích, liều lượng thì nó sẽ trở thành chất cực kỳ độc hại; không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của người sử dụng mà còn ảnh hưởng xấu đến gia đình, xã hội và là một trong những nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội khác. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý. Bị cáo Dương T biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, cần phải xét xử bị cáo thật nghiêm minh để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong toàn xã hội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để bị cáo tự cai nghiện cũng như bị cáo có thời gian lao động, học tập, rèn luyện tu dưỡng đạo đức của mình để trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội khi quay lại hòa nhập với cộng đồng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Qúa trình điều tra và tại phiên toàn ngày hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong ghi số 469/PC09 có chữ ký của Dương T (người chứng kiến), chữ ký Trần H (bên trả mẫu); Đinh T (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương; Khối lượng vật niêm phong M = 0,4223gam (theo kết luận giám định số 469/KL – KTHS ngày 14/10/2022).
- Đối với xe mô tô biển số 70B1 – 673.47, số máy VTTJL1P150FMG006539, số khung mờ không rõ), xe do bị cáo mượn của đối tượng tên Lộc không rõ nhân thân lai lịch, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C đã tiến hành đăng báo để tìm chủ sỡ hữu nhưng không ai đến nhận, xe do bị cáo sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước theo quy định.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho Dương T không rõ nhân thân, lai lịch, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ, khi xác định được sẽ xử lý sau.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Dương T phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Dương T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Dương T 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/10/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thư niêm phong ghi số 469/PC09 có chữ ký của Dương T (người chứng kiến), chữ ký Trần H (bên trả mẫu); Đinh T (bên nhận mẫu) và hình dấu đỏ niêm phong của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương; Khối lượng vật niêm phong M = 0,4223gam (theo kết luận giám định số 469/KL – KTHS ngày 14/10/2022).
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước: Xe mô tô biển số 70B1 – 673.47, số máy VTTJL1P150FMG006539, số khung mờ không rõ.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 31 tháng 3 năm 2023 giữa Công an thị xã C, tỉnh Bình Dương với Chi cục Thi hành án thị xã C, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Về kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã C; - Chi cục THADS Bến Cát; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - Công an thị xã C; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Hồ Thị Hoa |