vanban.org

Bản án 59/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 17/04/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) năm tù. Bản án số 42/2023/HS-ST ngày 14/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, bị tạm giam từ ngày 14/9/202… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh Tiền - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ
TỈNH KIÊN GIANG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HS-ST
Ngày 17 - 4 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Hồng Thắm

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Mỹ

Bà Chung Kim Sang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 196/2022/TLST-HS ngày 13/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2023/HSST-QĐ ngày 16/3/2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh T (tên gọi khác: Tiến Ngọng), sinh ngày 25/4/1991, tại Rạch Giá, Kiên Giang; Hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T2, huyện P, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: E31A đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá (học vấn): 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Thanh T3 (đã chết) và bà Thạch Thanh M; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: Bản án số 355/2015/HS-PT ngày 05/8/2015 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 20/8/2020 chấp hành xong hình phạt tù, chưa xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Nhân thân: Bản án số 85/2009/HS-ST của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”; đã chấp hành xong hình phạt tù; chưa chấp hành xong nghĩa vụ dân sự về bồi thường thiệt hại cho bị hại; do thời điểm phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi nên đương nhiên được xóa án tích.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/4/2022; đến ngày 14/9/2022 bị cáo bị bắt tạm giam cho đến nay để điều tra trong vụ án khác về tội “Trộm cắp tài sản”.

(bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên toà)

- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Bà Thạch Thị M, sinh năm 1968 (có mặt)

Nơi cư trú: E31A đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Thị V – Do Đoàn luật sư tỉnh Kiên Giang có Quyết định phân công bào chữa theo yêu cầu của Cơ quan tiến hành tố tụng. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1967 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Nơi cư trú: E31A đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

- Người chứng kiến:

Ông Ngô Văn P, sinh năm 1968 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Số 67 đường N, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

Ông Nguyễn Văn O, sinh năm 1972 (vắng mặt)

Nơi cư trú: Số 177/15 đường M, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ 15 phút, ngày 26/3/2022, tại trước nhà số 177/15, đường M, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy số 4, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phối hợp cùng Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Rạch Giá và Công an phường Vĩnh Thanh bắt quả tang Nguyễn Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi áo sơ mi (phía trước, bên trái) của T đang mặc trên người 09 (chín) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa có chứa chất bột màu trắng, T khai nhận là ma túy loại Heroine (bút lục 01, 02, 03, 92, 93).

Nguyễn Thanh T là đối tượng không có nghề nghiệp và nghiện ma túy (loại Heroine), bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 9/2021 nhưng không sử dụng thường xuyên, nguồn ma túy có để sử dụng là do T mua của một người phụ nữ (không rõ tên tuổi, lai lịch) ở khu vực Bến xe Miền Tây, thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 24/3 2022 với giá 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) và được người phụ nữ này bán cho 20 đoạn ống nhựa (còn gọi là tép) và đã sử dụng hết 11 tép, còn lại 09 tép T đem về nhà ở số E531A, đường P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang cất giấu. Đến ngày 26/3/2022 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T đã mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, biển kiểm soát 68XI-296.11 của ông Nguyễn Văn C là cha dượng của T, T nói với ông C là mượn xe đi công chuyện (ông C không biết T mượn xe để đi tìm nơi sử dụng ma túy). T bỏ 09 (chín) đoạn ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất bột màu trắng vào trong túi áo sơ mi (phía trước, bên trái) của T đang mặc rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68X1-296.11 đi tìm nơi để sử dụng. Khi đến trước nhà số 177/15, đường M, phường V, thành phố R thì bị Tổ công tác thuộc Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy số 4, Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển phối hợp với Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Rạch Giá và Công an phường Vĩnh Thanh tiến hành bắt quả tang cùng tang vật. Tại Cơ quan điều tra, T khai nhận mục đích tàng trữ trái phép chất ma túy là để sử dụng cá nhân, không có mục đích nào khác (bút lục số 91-99).

Ngày 20/4/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Kiên Giang ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; khởi tố bị can và lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Nguyễn Thanh T để điều tra.

Vật chứng thu giữ được trong vụ án:

- 09 đoạn ống hút nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa có chứa chất bột màu trắng;

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, số Imei: 350078310454006, đã qua sử dụng;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, biển kiểm soát 68X1-296.11, đã qua sử dụng.

Về việc xử lý vật chứng:

Ngày 30/6/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trao trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, số Imei: 350078310454006, đã qua sử dụng cho Nguyễn Thanh T, do không liên quan đến việc phạm tội; theo Quyết định xử lý vật chứng số 31/QĐ-CSĐT-ĐTTH.

Ngày 30/6/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trao trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, biển kiểm soát 68X1-296.11 cho chủ sở hữu ông Nguyễn Văn C, theo Quyết định xử lý vật chứng số 32/QĐ-CSĐT-ĐTTH, do ông C không biết T mượn xe để đi tìm nơi sử dụng ma túy, nên tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại Bản kết luận giám định số 283/KL-KTHS, ngày 05/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Kiên Giang, kết luận:

- 09 đoạn ống hút nhựa được niêm phong gửi giám định là chất ma túy, loại Heroin. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,1916 gam.

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo không có khiếu nại về kết luận giám định trên.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần theo trưng cầu số: 390/2022/KLGĐ ngày 09/12/2022 của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ kết luận đối với Nguyễn Thanh T như sau:

- Về y học: Trước, trong, sau các thời điểm phạm tội và hiện tại: Rối loạn nhân cách, hành vi do sử dụng nhiều loại ma túy và các chất tác động tâm thần khác (F19.71-ICD10).

- Về năng lực: Tại các thời điểm phạm tội và hiện tại: Đương sự hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.

Bản cáo trạng số: 211/CT-VKSRG ngày 10/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm q điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Đề nghị áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt với Bản án số 42/2023/HS-ST ngày 14/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

- Hình phạt bổ sung: Không đề nghị.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị:

Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi: Niêm phong mẫu vật, vụ số 283/2022 có chữ ký của giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến niêm phong Võ Thị Thủy T, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất việc xác định tội danh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo. Bị cáo tàng trữ ma túy chỉ vì mục đích sử dụng cá nhân, bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên không nhận thức được hành vi vi phạm của mình là nguy hiểm cho xã hội; do đó Hội đồng xét xử cho hưởng mức án nhẹ để qua đó thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi của bản thân là sai trái, mong được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Rạch Giá, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình tiến hành tố tụng những người tham gia tố tụng không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh T khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đúng với nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; mục đích bị cáo tàng trữ ma tuý là để sử dụng. Cụ thể: Vào khoảng 16 giờ 15 phút, ngày 26/3/2022, tại trước nhà số 177/15 đường M, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Đoàn Đặc nhiệm phòng chống ma túy số 4 Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển kết hợp Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Rạch Giá và Công an phường Vĩnh Thanh tiến hành kiểm tra và đã bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma túy; thu giữ trong túi áo sơ mi phía trước, bên trái của bị cáo đang mặc trên người tổng cộng 09 ống nhựa được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều có chứa ma túy; qua giám định là chất ma túy loại Heroine có khối lượng 0,1916 gam. Heroine là chất ma túy nằm trong danh mục I, STT 09, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ.

Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: điểm c: Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.

Xét thấy, bị cáo nhận tội do thực sự thành khẩn, lời khai nhận của bị cáo về hành vi và các tình tiết của vụ án phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Kiên Giang cùng với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Đối chiếu hành vi của bị cáo với quy định của Bộ luật hình sự đã đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Nguyễn Thanh T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá truy tố bị cáo với tội danh và điều luật viện dẫn trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Ma túy gây ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, an ninh trật tự, đạo đức lối sống, trở thành một hiểm hoạ lớn đối với toàn xã hội, đe doạ trực tiếp đến cuộc sống của mỗi cá nhân và cộng đồng xã hội. Bị cáo được xác định là người bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, nhưng vẫn có năng lực trách nhiệm hình sự; bản thân bị cáo là người có tiền án về tội phạm liên quan đến ma túy nên bị cáo phải nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là vi phạm quy định của pháp luật. Tuy nhiên vì muốn có ma túy để sử dụng nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng; nên cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, cải tạo bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thuộc trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự; do đó bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo thuộc trường hợp người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điểu khiển hành vi của mình; do đó cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm q và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát

Xét về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án nên thuộc trường hợp có nhân thân xấu.

Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo; sau khi nghị án Hội đồng xét xử thống nhất xử phạt bị cáo hình phạt tù có thời hạn, giam giữ bị cáo trong một thời gian nhất định, cải tạo bị cáo thành công dân biết tôn trọng pháp luật, qua đó đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật trong công tác đấu tranh với tội phạm ma tuý.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là người bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điểu khiển hành vi, không có nghề nghiệp, không tạo ra thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Cùng ngày 30/6/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Rạch Giá đã trao trả 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu xanh, số Imei: 350078310454006, đã qua sử dụng cho Nguyễn Thanh T, do không liên quan đến việc phạm tội; và trả 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen, biển kiểm soát 68X1-296.11 cho chủ sở hữu ông Nguyễn Văn C, do ông C không biết bị cáo mượn xe để đi tìm nơi sử dụng ma túy, nên tài sản này không liên quan đến hành vi phạm tội. Xét thấy việc xử lý vật chứng nêu trên của Cơ quan điều tra không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, không có ai khiếu nại về việc xử lý vật chứng nên Hội đồng xét xử không xử lý.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi: Niêm phong mẫu vật, vụ số 283/2022 có chữ ký của giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến niêm phong Võ Thị Thủy T, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm q điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) năm tù.

Bản án số 42/2023/HS-ST ngày 14/3/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, bị tạm giam từ ngày 14/9/2022.

Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Thanh T phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt, bị tạm giam từ ngày 14/9/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi: Niêm phong mẫu vật, vụ số 283/2022 có chữ ký của giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến niêm phong Võ Thị Thủy T, bên trong có chứa chất ma túy còn lại sau giám định.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số: 200/QĐ-VKS ngày 10/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Rạch Giá)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thanh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Báo cho bị cáo, người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ