vanban.org

Bản án 59/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 20/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/5/2023). Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ mẫu vật sau giám định do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại sau giám định M1 = 0,4312g gam mẫu cùng toàn bộ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Tâm phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM ĐẢO
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HS-ST
Ngày 20 - 9 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐẢO, TỈNH VĨNH PHÚC

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Ngọc và ông Lê Mạnh Quỳnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Vân, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Huyền, Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại tại trụ sở UBND xã TQ, huyện TĐ, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1992; Nơi cư trú: TDP TN, thị trấn LT, huyện LT, tỉnh VP; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc; Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc L và bà Trần Thị H; vợ, con: chưa có; tiền sự, tiền án: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/5/2023 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 25/5/2023 tại khu vực đường Tỉnh lộ 302, thôn NH, xã HS, huyện TĐ, tỉnh VP, tổ công tác Công an huyện Tam Đảo đang làm nhiệm vụ thấy Nguyễn Văn T, sinh năm 1992, ở TDP TN, thị trấn LT, huyện LT, tỉnh VP có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, phát hiện T đang tàng trữ trái phép chất ma túy. Cơ quan công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ các vật chứng gồm: thu tại túi quần phía trước bên trái của T 01 gói nilon màu trắng đựng trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” màu vàng, bên trong gói này chứa chất cục bột màu trắng T khai là ma túy mua để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang, vật chứng được niêm phong ký hiệu M1.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tam Đảo ra Quyết định trưng cầu giám định số 175 trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định đối với mẫu ký hiệu M1 có phải là chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy không, loại chất ma túy, tiền chất gì, khối lượng của mẫu gửi giám định là bao nhiêu.

Tại bản Kết luận giám định số 1480/KLGĐ ngày 29/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: "Mẫu chất cục bột màu trắng của mẫu ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng 0,4789g (Không phảy bốn bảy tám chín gam, không kể bao bì, là ma túy loại Heroine".

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho cơ quan trưng cầu gồm M1 = 0,4312 gam mẫu cùng toàn bộ bao gói.

Về nguồn gốc gói ma túy, Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 25/5/2023, Tâm đang ở nhà ở TDP TN, thị trấn LT, huyện LT, tỉnh VP thì nảy sinh nhu cầu sử dụng ma túy. Trước đó thông qua bạn bè xã hội giới thiệu, Tâm biết tại khu vực Trung tâm y tế huyện TĐ có ma túy bán nên T đi nhờ xe máy của một người đi đường tới đó (T không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này, không nhớ BKS xe). Tới nơi, T xuống xe đi bộ rồi gặp và hỏi mua một người đàn ông khoảng 30 tuổi (T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) 01 gói ma túy với giá 200.000đ. Người này nhận tiền rồi chỉ chỗ để gói ma túy trong bao thuốc lá Thăng Long màu vàng ở bờ tường bao loan rồi rời đi. T tới vị trí trên kiểm tra rồi cất gói ma túy vào túi quần phía trước bên trái đang mặc và đi tìm địa điểm sử dụng. Khi T đang đi bộ trên đường Tỉnh lộ 302 thuộc thôn thôn NH, xã HS, huyện TĐ thì bị Công an bắt quả tang.

Đối với người đàn ông T khai nhận đã bán ma túy, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý trong vụ án này, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ xử lý sau.

Đối với người đàn ông T khai nhận cho đi nhờ xe, T khai không biết người này là ai, ở đâu, không liên quan đến việc T đi tìm mua ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Về xử lý vật chứng:

Đối với số mẫu vật ma túy được Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn trả lại sau giám định là M1 = 0,4312g mẫu cùng toàn bộ bao gói cần tịch thu tiêu hủy.

Tại Bản cáo trạng số: 49/CT-VKSTĐ ngày 24/8/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Kiểm sát viên luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung Bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, phạt: Nguyễn Văn Tâm từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tam Đảo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố, thể hiện như sau: Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 25/5/2022 tại khu vực thôn NH, xã HS, huyện TĐ, Nguyễn Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mục đích để sử dụng thì bị Công an huyện Tam Đảo bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm: 01 gói nilon màu trắng đựng trong vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu “Thăng Long” màu vàng, bên trong gói nilon chứa chất cục bột màu trắng có khối lượng 0,4789g, kết luận là ma túy Heroine. Mục đích để sử dụng.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: ... c) Heroine … có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Do đó, Bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Ma tuý là một tệ nạn cần phải loại bỏ ra khỏi đời sống xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, sói mòn đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc và là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác. Bản thân bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng bản thân.

Hội đồng xét xử xét thấy khi lượng hình xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhưng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo bị cáo trở thành người công dân lương thiện, sống có ích cho gia đình và xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có thời gian tham gia quân đội được tặng danh hiệu giấy khen nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về áp dụng hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật do Cơ quan giám định hoàn lại sau giám định là M1 = 0,4312g gam mẫu cùng toàn bộ bao gói.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/5/2023).

3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: Toàn bộ mẫu vật sau giám định do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc hoàn lại sau giám định M1 = 0,4312g gam mẫu cùng toàn bộ bao gói.

(Các vật chứng trên có đặc điểm như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2023).

4. Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ