- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn N - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Trần Văn N phải nộp 200.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 59/2023/HS-ST Ngày 23-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Hòe.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Đê;
Ông Phạm Văn Lịch.
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Hồng Thắm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu tham gia phiên tòa: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:
Trần Văn N, sinh năm 1988; nơi sinh: Xóm 6, xã Hải Cường, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện nay: Xóm 6, xã Hải Cường, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Sửa xe; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Hiệu, sinh năm 1964 và con bà Lê Thị Ngát, sinh năm 1970; bị cáo có vợ là Lã Thị Lự, sinh năm 1992 và 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
- Bị hại: Anh Trần Văn Th, sinh năm 1980 (đã chết).
- Người đại diện hợp pháp cho bị hại: Bà Lê Thị Th1, sinh năm 1981. Nơi cư trú: Xóm 9, xã Hải N, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Người làm chứng:
1. Ông Vũ Văn Tr, sinh năm 1982;
2. Bà Phạm Văn Th2, sinh năm 1958;
3. Anh Vũ Văn D, sinh năm 1988.
Tại phiên tòa: Có mặt bị cáo, chị Th1; vắng mặt những người làm chứng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ ngày 06/12/2022, Trần Văn N có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 18F1 – 9888 di chuyển trên Quốc lộ 21 theo hướng xã Hải N đi xã Hải Phong, huyện Hải Hậu. Khi đi đến khu vực xóm N Thành, xã Hải Giang, huyện Hải Hậu, N không làm chủ được tốc độ, không giữ được khoảng cách an toàn đối với xe chạy phía trước dẫn đến giá để chân bên trái xe mô tô do N điều khiển va chạm với ống xả (bên phải) xe mô tô không gắn biển kiểm soát do anh Trần Văn Th điều khiển đi cùng chiều phía trước. Hậu quả: Bị cáo bị thương điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện Hải Hậu; anh Th bị thương, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Việt Đức nhưng đã tử vong vào hồi 11 giờ 45 phút ngày 08/12/25022; hai xe mô tô bị hư hỏng.
Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1844 ngày 22/12/2022, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Nguyên nhân tử vong của anh Trần Văn Th là do chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐG ngày 15/02/2023, Hội đồng định giá tài sản huyện Hải Hậu đã kết luận: Giá trị thiệt hại của xe mô tô không gắn biển kiểm soát, số máy LC150FM01579741 tại thời điểm định giá là 150.000 đồng. Giá trị thiệt hại của xe mô tô BKS 18F1 – 9888 tại thời điểm định giá là 315.000 đồng.
Quá trình điều tra, Trần Văn N đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000đ, đại diện hợp pháp của anh Th đã nhận đủ số tiền trên, không đề nghị gì thêm về phần dân sự và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.
Cáo trạng số 55/CT-VKSHH ngày 29/05/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo Trần Văn N thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm như bản cáo trạng đã nêu. Đại diện hợp pháp cho bị hại không yêu cầu bồi thường thêm về dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Trần Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn N từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù và đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Tranh luận tại phiên tòa: Kiểm sát viên, bị cáo, đại diện hợp pháp cho bị hại không tranh luận.
Nói lời sau cùng, bị cáo công nhận Viện kiểm sát đã truy tố đúng hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện và thực sự ăn năn hối lỗi, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Trần Văn N tại phiên toà được chứng minh bằng lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng; biên bản khám nghiệm tử thi, biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu khác được lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 06/12/2022, Trần Văn N, điều khiển xe mô tô BKS 18F1 – 9888 di chuyển trên Quốc lộ 21 theo hướng xã Hải N đi xã Hải Phong, huyện Hải Hậu. Khi đi đến khu vực xóm N Thành, xã Hải Giang, do không làm chủ được tốc độ, không giữ được khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền phía trước (vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ sửa đổi bổ sung năm 2009) dẫn đến giá để chân xe mô tô do bị cáo điều khiển va chạm với ống xả (bên phải) xe mô tô không gắn biển kiểm soát có số máy: LC150FM01579741 do anh Trần Văn Th điều khiển đi cùng chiều phía trước. Hậu quả: Anh Trần Văn Th bị thương, được đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong vào hồi 11 giờ 45 phút ngày 08/12/2022 do chấn thương sọ não, vỡ xương hộp sọ, chảy máu nội sọ.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước Toà án nhân dân huyện Hải Hậu để xét xử với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm đối với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện thì thấy: Mặc dù không cố ý nhưng bị cáo đã không điều chỉnh tốc độ phương tiện khi gặp phương tiện khác, không giữ khoảng cách với phương tiện phía trước là vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao Thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến sự an toàn của các phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Sau khi phạm tội, bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại; người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường về dân sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm”. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 200.000.000đ. Đến nay, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu về dân sự nên về trách nhiệm dân sự, Hội đồng xét xử không giải quyết.
Chiếc xe mô tô không gắn biển kiểm soát, số máy LC150FMG01579741 là tài sản hợp pháp của anh Trần Văn Th; chiếc xe mô tô BKS 18F1 - 9888 là tài sản hợp pháp của anh Vũ Văn Tr, anh Tr đưa xe cho bị cáo N sử dụng để giao hàng thuê cho anh Tr. Anh Tr và đại diện hợp pháp của anh Th đề nghị xin lại xe, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do xe bị hư hỏng. Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Tr và đại diện hợp pháp của anh Th quản lý, sử dụng là phù hợp pháp luật.
Bị cáo Trần Văn N phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Trần Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Trần Văn N 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù kể từ khi bị cáo đi chấp hành án.
2. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Trần Văn N phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn N, đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện + tỉnh Nam Định; - Công an huyện Hải Hậu; - THA hình sự; - Chi cục THA dân sự; - UBND xã Hải Cường; - Bị cáo; - Người đại diện hợp pháp của bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu Vp. | THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Ngô Thị Hòe |