vanban.org

Bản án 59/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên Tuyên án 24/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu, tiêu hủy 0,62 gam Heroine và 0,3 gam Methamphetamine (đã trừ giám định). Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 28/4/2023 giữa cơ quan Công an huyện Điện Biên Đông và Chi cụ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 59/2023/HS-ST
Ngày: 24-5-2023
ơ

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN ĐÔNG, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Hồng Quang.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Như Lữ.

2. Ông Lường Văn Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cà Thị Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Vàng A Vừ - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lò Văn Th (tên gọi khác: không); Sinh năm: 1996 tại huyện ĐBĐ, tỉnh Điện Biên; Nơi cư trú: Tổ 3, thị trấn ĐBĐ, huyện ĐBĐ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông nghiệp; Trình độ văn hóa: 6/12; Con ông Lò Văn S, sinh năm: 1970 và bà Lò Thị Kh, sinh năm: 1974; vợ, con chưa có; Tiền án: 01 tiền án, tại bản án số 226/2021/HS-ST ngày 16/9/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đến ngày 26/7/2022 chấp hành xong chưa được xóa án tích; Tiền sự: không. Nhân thân: Bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 20 tháng theo quyết định số 35/QĐ-TA ngày 24/4/2017. Bị bắt, tạm giữ từ ngày 04/02/2023 đến 13/02/2023 bị tạm giam cho đến nay. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Chị Lò Thị B, sinh năm: 1992; Trú tại: Tổ 3, thị trấn ĐBĐ, huyện ĐBĐ, tỉnh Điện Biên. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn Th: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 03/02/2023, Lò Văn Th điều khiển xe máy biển kiểm soát 27B1 - 481.36 chở Cà Văn T đến khu vực bản PN B, xã PNh, huyện ĐBĐ để tìm mua ma túy sử dụng. Sau khi mua được ma túy Th điều khiển xe máy chở T quay về. Khoảng 00 giờ 20 phút, ngày 04/02/2023 khi về đến khu vực bản NL, xã NS thì Lò Văn Th bị tổ công tác công an xã NS phát hiện, bắt quả tang còn Cà Văn T chạy thoát.

Vật chứng thu giữ của Lò Văn Th là 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng đục, 01 gói nilon màu trắng chứa 05 viên màu đỏ và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu YAMAHA, loại SIRIUS, biển kiểm soát 27B1 - 481.36.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, trích mẫu giám định ngày 04/02/2023 và Kết luận giám định số 273/KL-KTHS ngày 12/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: số chất bột màu trắng đục thu giữ của Lò Văn Th có khối lượng 0,69 gam, trích gửi giám định 0,07 gam là ma túy loại Heroine. Các viên ném màu hồng trích ra từ vật chứng thu giữ của Lò Văn Th có khối lượng 0,48 gam trích gửi giám định 0,18 gam là ma túy loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra cơ quan điều tra chưa điều tra làm rõ được hành vi của Cà Văn T người bị cáo khai nhờ bị cáo chở đi mua ma túy do Cà Văn Tkhông có mặt tại nơi cư trú.

Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSĐBĐ ngày 27/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông truy tố bị cáo Lò Văn Th về tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn Th về cả tội danh và điều luật, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lò Văn Th từ 15 tháng tù đến 20 tháng tù. Về vật chứng vụ án đề nghị áp dụng áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, tiêu hủy 0,62 gam Heroine và 0,3 gam Methamphetamine còn lại sau giám định. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lò Thị B khai ngày 03/02/2023 chị có cho Lò Văn Th là em chồng mượn chiếc xe máy biển kiểm soát 27B1-481.36 để đi chợ việc Th mang xe đi mua ma túy chị không biết. Chiếc xe máy là tài sản riêng của chị, chị mua từ năm 2016 trước khi lấy chồng. Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe máy nêu trên chị Lò Thị B. Tại phiên tòa chị không có yêu cầu gì thêm.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo Lò Văn Th: nhất trí với tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét Th độ, nhân thân, hoàn cảnh của bị cáo, cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mà viện kiểm sát đề nghị, không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét hành vi của bị cáo Lò Văn Th bị truy tố thấy rằng:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố, cụ thể bị cáo khai nhận vì nghiện chất ma túy nên ngày 03/02/2023, bị cáo đã chở Cà văn T lên khu vực bản PNB, xã PNh tìm mua ma túy để được cùng sử dụng, khi đang trên đường đi về nhà thì bị Công an bắt quả tang thu giữ toàn bộ số Heroine và Methamphetamine. Số Heroine bị thu giữ có khối lượng 0,69 gam, số Methamphetamine bị thu giữ có khối lượng 0,48 gam. Như vậy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 04/02/2023, Biên bản niêm phong vật chứng, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và lấy mẫu giám định, Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung có trong hồ sơ vụ án.

Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định bị cáo Lò Văn Th là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, cố ý trực tiếp đi mua ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân với số lượng ma túy mua tàng trữ đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có hành vi tàng trữ 02 chất ma túy là 0,69 gam Heroine và 0,48 gam Methamphetamine, tổng khối lượng 02 chất ma túy là 1,17 gam. Theo quy định tại Điều 4 Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ thì bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, điều luật quy định:

Tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

“i. Có 2 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h kgoanr này”.

Như vậy, Cáo trạng viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đông truy tố bị cáo về tội danh và điều luật là có căn cứ cần chấp nhận.

. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.

Bị cáo Lò Văn Th là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là vi phạm pháp luật, xâm phạm chính sách quản lý các chất ma túy của nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng cần xử lý nghiêm minh.

. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

Bản thân bị cáo vào năm 2017, bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đông áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 20 tháng. Vào năm 2021, lại bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tuyên 15 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 26/7/2022 trở về địa phương đến khi thực hiện hành vi phạm tội ngày 03/02/2023 chưa được xóa án tích, chứng tỏ bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo tuổi đời còn trẻ, chưa có vợ con nhưng không tu dưỡng rèn luyện bản thân xây dựng gia đình mà lại đua đòi bè bạn sử dụng ma túy dẫn đến nghiện, từ nghiện nên mua tàng trữ sử dụng dẫn đến phạm tội như ngày hôm nay, bị cáo phải chịu trách nhiệm cho hành vi của mình đã thực hiện.

Trong quá trình điều tra tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo phạm tội khi chưa được xóa án tích do đó bị cáo phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về hình phạt:

Hình phạt chính: Từ phân tích tại mục [1], [2] và [3] Hội đồng xét xử chấp nhận mức đề xuất của đại diện Viện kiểm sát về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội. Xét thấy mức đề xuất của người bào chữa là thấp so với mức độ nghiêm trọng của hành vi mà bị cáo thực hiện do đó HĐXX không chấp nhận.

Hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự nhưng bị cáo là người nghiện ma túy, thu nhập chỉ dựa vào làm ruộng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp như đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa, phân tích đề xuất.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về vật chứng vụ án:

Vật chứng thu giữ của bị cáo là 0,69 gam Heroine, đã trích trừ giám định 0,07 gam không hoàn lại, còn 0,62 gam Heroine và 0,48 gam Methamphetamine, đã trích giám định 0,18 gam không hoàn lại còn lại 0,3 gam Methamphetamine đây là các chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy toàn bộ theo điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với chiếc chiếc xe máy YAMAHA màu xanh, đen biển kiểm soát 27B1-481.36 trong quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra đã làm rõ và trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Lò Thị B theo quyết định xử lý vật chứng số 06/QĐ ngày 11/4/2023 của cơ quan cảnh sát điều tra, HĐXX thấy phù hợp nên chấp nhận.

. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

. Về các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với Cà Văn T bị cáo khai người nhờ bị cáo chở đi mua ma túy, trong quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra đã triệu tập nhiều lần nhưng Cà văn T vắng mặt tại địa phương do đó chưa điều tra làm rõ được. Hội đồng xét xử không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn Th (tên gọi khác: không) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Xử phạt bị cáo Lò Văn Th 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 04/02/2023).

2. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu, tiêu hủy 0,62 gam Heroine và 0,3 gam Methamphetamine (đã trừ giám định).

Vật chứng đã được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đông theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 28/4/2023 giữa cơ quan Công an huyện Điện Biên Đông và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Điện Biên Đông.

- Chấp nhận việc cơ quan cảnh sát điều tra trả lại chiếc xe máy YAMAHA SIRIUS FI, màu xanh, đen, biển kiểm soát 27B1-481.36, số khung: 1720GY010831, số máy: E3T6E085629 xe cũ, đã qua sử dụng cho chị Lò Thị B, sinh năm: 1992, trú tại: Tổ 3, thị trấn ĐBĐ, huyện ĐBĐ, tỉnh Điện Biên.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Th.

4. Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/5/2023)./.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ