vanban.org

Bản án 59/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thành C.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Vân A, sinh ngày 09 tháng 11 năm 2015 cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Tiến C, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2009 cho anh Nguyễn Thành C trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi mỗ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Thương ly hôn anh Chung"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thành C.
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN AN DƯƠNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HNGĐ-ST
Ngày 16-6-2023
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Văn Dung

2. Bà Bùi Thị Nhàn

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng, Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thơ- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2023/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Phạm Thị T; Địa chỉ: Xóm L, xã D, huyện T, thành phố Hải Phòng; Có mặt.

Bị đơn: Anh Nguyễn Thành C; Địa chỉ: Thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong Đơn khởi kiện ngày 15 tháng 01 năm 2023 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị kết hôn với anh Nguyễn Thành C ngày 15 tháng 9 năm 2008 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng. Sau khi kết hôn chị và anh C chung sống cùng với gia đình anh C tại thôn N, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng. Vợ chồng chung sống vui vẻ hạnh phúc đến khoảng năm 2019 thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, do anh C không chăm lo cho gia đình. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình nhiều lần khuyên giải nhưng không thành. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị và anh C đã sống ly thân từ năm 2020 không ai còn quan tâm và có trách nhiệm với ai nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể khắc phục được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Thành C.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Thành C có hai con chung là Nguyễn Tiến C, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2009 và Nguyễn Vân A, sinh ngày 09 tháng 11 năm 2015. Ly hôn chị đề nghị Tòa án giao con Nguyễn Vân A cho chị nuôi dưỡng, giao con Nguyễn Tiến C cho anh Nguyễn Thành C trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị và anh C không có tài sản chung nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Thành C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do và không có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn chị Phạm Thị T.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu ý kiến:

- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã vi phạm các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự khi không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

- Về nội dung: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; các điều 51, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn anh Nguyễn Thành C. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Tiến C, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2009 cho anh Nguyễn Thành C, giao con chung Nguyễn Vân A, sinh ngày 09 tháng 11 năm 2015 chị Phạm Thị T nuôi dưỡng. Về tài sản chung và cấp dưỡng: Không xem xét giải quyết. Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Chị Phạm Thị T khởi kiện ly hôn với anh Nguyễn Thành C, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Thành C hiện đang cư trú tại thôn N, xã A, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Bị đơn anh Nguyễn Thành C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan nên căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn, tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập, đủ cơ sở xác định: Chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Thành C kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã A, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng vào ngày 15 tháng 9 năm 2008, theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2019 thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, chị Thương và anh C đã sống ly thân từ năm 2020 không ai còn quan tâm và có trách nhiệm với ai. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị Thương và anh C đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của chị Phạm Thị T có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về con chung: Chị Phạm Thị T và anh Nguyễn Thành C có 02 con chung là Nguyễn Tiến C, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2009 và Nguyễn Vân A, sinh ngày 09 tháng 11 năm 2015. Xét, việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên là quyền và trách nhiệm của cha mẹ sau ly hôn. Chị Thương và anh C đều đang ở độ tuổi lao động, có thu nhập và đều được gia đình hỗ trợ trong việc chăm sóc, nuôi con nên điều kiện nuôi con của chị Thương và anh C là như nhau. Do con chung Nguyễn Vân A là nữ và còn nhỏ, con chung Nguyễn Tiến C có nguyện vọng được ở với anh C nên quan điểm của chị Thương về việc chị Thương nuôi con Nguyễn Vân A và anh C nuôi con Nguyễn Tiến C là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Phạm Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn Thành C không có quan điểm về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Phạm Thị T có quan điểm vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết, anh Nguyễn Thành C không có quan điểm về tài sản nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, khoản 1, 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Phạm Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Thành C.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Vân A, sinh ngày 09 tháng 11 năm 2015 cho chị Phạm Thị T trực tiếp nuôi dưỡng và giao con chung Nguyễn Tiến C, sinh ngày 06 tháng 3 năm 2009 cho anh Nguyễn Thành C trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Việc cấp dưỡng và tài sản chung: Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Chị Phạm Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị Phạm Thị T đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004463 ngày 10 tháng 3 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, T.P Hải Phòng.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm ngày), kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

6. Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ