vanban.org

Bản án 59/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Hồng T về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” với anh Trần Hoàng N.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Hồng T được ly hôn với anh Trần Hoàng N. Về con chung: Giao cháu Trần Hoàng P, sinh ngày 25/02/2007 cho chị Đỗ Thị Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời anh Trần Hoàng N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị T yêu cầu ly hôn với anh N, con chung không cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung không có"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Hồng T về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” với anh Trần Hoàng N.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 24/5/2023
V/v: “Ly hôn và tranh chấp về
nuôi con”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Văn Đài.

Bà Đào Thị Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Cao Văn Bình – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 227/2023/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14/4/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 70/2023/QĐST-HNGĐ ngày 04/5/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Hồng T, sinh năm: 1981.

Địa chỉ: Số 95/2, khu phố Phan Bội Châu, thị trấn Dầu Giây, huyện Thống Nhất, Đồng Nai.

- Bị đơn: Anh Trần Hoàng N, sinh năm: 1980.

Địa chỉ: Số 77B, đường Đ, khu 1, ấp Q, xã Đ, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

(các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai, biên bản làm việc có trong hồ sơ vụ án, chị Đỗ Thị Hồng T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh N tự nguyện tìm hiểu, tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai vào năm 2006. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không còn yêu thương nhau, đã sống riêng từ năm 2008 cho đến nay, hôn nhân không hạnh phúc nên chị yêu cầu được ly hôn với anh N.

Về con chung: Có 01 con chung là cháu Trần Hoàng Phúc, sinh ngày 25/02/2007, ly hôn chị yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng.

Tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngày 21/3/2023, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn anh Trần Hoàng Nhân đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do nên không có trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, thủ tục hòa giải, thu thập tài liệu, chứng cứ, thời hạn chuẩn bị xét xử, quyết định xét xử, thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, cấp, tống đạt các văn bản tố tụng; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được Tòa án thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đơn khởi kiện xin ly hôn của chị T là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị cho chị T được ly hôn với anh N. Về con chung: Giao con chung cho chị T nuôi dưỡng, tạm thời anh N không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Chị T trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị không đặt ra xem xét. Về án phí: Chị T phải nộp án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Chị Đỗ Thị Hồng Thủy nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Trần Hoàng Nhân, sinh năm: 1980; địa chỉ: Số 77B, đường Đ, khu 1, ấp Q, xã Đ, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự thì quan hệ là “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Về thủ tục tố tụng:

Chị T nộp đơn đúng trình tự thủ tục nên được thụ lý, giải quyết.

Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt chị T.

Anh N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh.

Về yêu cầu khởi kiện:

3.1 Về quan hệ hôn nhân:

Chị T và anh N tự nguyện chung sống và đăng ký kết hôn, được UBND xã Đ, huyện Trảng Bom cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 20/TPX ngày 25/3/2006 nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án, chị T kiên quyết yêu cầu được ly hôn với anh N, hiện không ai quan tâm nhau, đã sống riêng từ năm 2008, hôn nhân không còn hạnh phúc. Đồng thời, quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhiều lần triệu tập anh N để làm việc nhưng anh N vắng mặt không có lý do, thể hiện việc anh không có thiện chí hòa giải, đoàn tụ. Từ những căn cứ trên, xét mâu thuẫn giữa chị T và anh N là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị T yêu cầu ly hôn với anh N là có cơ sở, phù hợp quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3.2 Về con chung:

Anh chị có 01 con chung là cháu Trần Hoàng P, sinh ngày 25/02/2007. Ly hôn, chị T yêu cầu được nuôi con chung, tạm thời chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con; chị hiện nay có công việc ổn định và có sự giúp đỡ của gia đình bên ngoại; đồng thời cháu P có nguyện vọng được sống cùng mẹ nên Hội đồng xét xử giao cháu P cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh N không phải cấp dưỡng nuôi con.

3.3 Về tài sản chung, nợ chung: Chị T trình bày không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, chị T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 220, 228, 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9, 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010); Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Hồng T về việc “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” với anh Trần Hoàng N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Hồng T được ly hôn với anh Trần Hoàng N.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Hoàng P, sinh ngày 25/02/2007 cho chị Đỗ Thị Hồng T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm thời anh Trần Hoàng N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Trần Hoàng N được quyền đến thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con chung khi cần thiết các đương sự được quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Chị Đỗ Thị Hồng T phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình nhưng trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002532 ngày 03/3/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Chị Đỗ Thị Hồng Thủy đã nộp đủ án phí.

5. Chị Đỗ Thị Hồng T và anh Trần Hoàng N có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

6. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ