vanban.org

Bản án 59/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng Y đối với ông Nguyễn Văn T

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hoàng Y được ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hoàng A, sinh ngày: 08/4/2013, cho bà Nguyễn Hoàng Y trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi con chung đủ 18 tuổi. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Hoàng Y - Trần Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng Y đối với ông Nguyễn Văn T
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỦ THỪA
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25-7-2023
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Bùi Mạnh Quyết

2. Bà Mai Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thường Ân – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 7 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 95/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 4 năm 2023 về tranh chấp “ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Hoàng Y, sinh năm: 1992. Địa chỉ: ấp Bình Tây, xã B, huyện T, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm: 1988. Địa chỉ: ấp 7, xã N, huyện T, tỉnh Long An.

(Nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin vắng mặt; bị đơn vắng mặt không rõ lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Hoàng Y trình bày: Bà và ông Nguyễn Văn T tự nguyện đi đến hôn nhân được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, tỉnh Long An vào ngày 13/9/2010. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do ông T ăn nhậu và gây ra nợ nần. Bà Y đã khuyên can nhiều lần nhưng ông T không thay đổi. Nay bà Y nhận thấy vợ chồng không còn yêu thương nhau nữa, không thể sống chung nên bà yêu cầu được ly hôn. Về con chung: Ông bà có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng A, sinh ngày: 08/4/2013, hiện nay đang do bà Y nuôi dưỡng. Khi ly hôn bà Y yêu cầu được nuôi con chung, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: Không có.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Nguyễn Văn T không có mặt và không có văn bản trình bày ý kiến hay yêu cầu cụ thể nào.

Tòa án không tiến hành hòa giải được do bị đơn không hợp tác nên đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Ông T vắng mặt không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An phát biểu: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp và đúng tư cách các đương sự, việc giải quyết vụ án đúng thời hạn quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được bà Y yêu cầu ly hôn là phù hợp. Về con chung giao bà Y trực tiếp nuôi dưỡng; Ông T phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y xác định không có, không yêu cầu giải quyết trong vụ án này.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Hoàng Y và ông Nguyễn Văn T có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Nay bà Nguyễn Hoàng Y yêu cầu ly hôn, ông T đang cư trú tại ấp 7, xã N, huyện T, nên Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Bà Nguyễn Hoàng Y và ông Nguyễn Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử, nhưng bà Y có đơn xin xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông bà theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng Y, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Y cho rằng giữa bà và ông T đã xảy ra mâu thuẫn do ông T thường xuyên uống rượu và gây ra nợ nần. Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cùng các tài liệu bà Y cung cấp gồm đơn khởi kiện có thể hiện rõ lời trình bày của bà Y về mâu thuẫn vợ chồng. Tuy nhiên ông T không có ý kiến hay phản đối. Do đó nhận thấy trong thời gian chung sống giữa bà Y và ông T đã xảy ra mâu thuẫn nhưng cả hai bên không tìm cách để giải quyết mâu thuẫn dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây cãi hậu quả bà Y và ông T không còn sống chung và không còn quan tâm chăm sóc nhau. Tòa án tiến hành hòa giải cho ông bà trở về đoàn tụ đồng thời cho thêm thời gian để ông bà khắc phục tình trạng hôn nhân của mình, song ông T không tham gia hòa giải. Tại phiên tòa ông T cũng vắng mặt cho thấy ông không còn thiết tha với mối quan hệ hôn nhân này. Bà Y vắng mặt vẫn cương quyết ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, bà Y và ông T không còn sống chung, không còn quan tâm chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của bà Y là phù hợp với Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

Về con chung: Hiện còn nhỏ và đang do bà Y nuôi dưỡng, cháu An có nguyện vọng được sống chung với bà Y. Ông T không có yêu cầu được nuôi con cũng không có ý kiến phản đối việc bà Y xin được nuôi con. Do đó giao con chung cho bà Y trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Y yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật là phù hợp nên được chấp nhận. Buộc ông T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 900.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Thời gian bắt đầu cấp dưỡng là tháng 7/2023.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Y, xác định không có. Ông T không có lời trình bày nên HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Y phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Hoàng Y đối với ông Nguyễn Văn T

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Hoàng Y được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Hoàng A, sinh ngày: 08/4/2013, cho bà Nguyễn Hoàng Y trực tiếp nuôi dưỡng cho tới khi con chung đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Buộc ông T cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 900.000đ cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Thời gian bắt đầu cấp dưỡng là tháng 7/2023.

Mặc dù không trực tiếp nuôi dưỡng con chung, nhưng ông T được quyền thăm, chăm sóc con chung không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

2. Án phí: Bà Nguyễn Hoàng Y phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003834 ngày 06/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa sang án phí. Bà Nguyễn Hoàng Y không phải nộp thêm án phí. Ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.

3. Án xử sơ thẩm, đương sự không đồng ý thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án được quyền tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo điều 30 Luật Thi hành dân sự án.

Cỡ chữ