vanban.org

Bản án 59/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Thanh Tr.

Về con chung: Chị Võ Thị Thanh Tr được trực tiếp nuôi con chung tên Hồ Hoàng H, sinh ngày 14/12/2015. Chị Tr không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con khi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thị Thanh Tr - Hồ Văn A"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Thanh Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BẾN TRE
Bản án số: 59/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19-9-2023.
V/v “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ, TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Trí

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Võ Văn Hiện

- Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Nguyễn Nhứt –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú - tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Mộng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 173/2022/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 10 năm 2022 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2023/QĐXXST–HNGĐ ngày 25 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 41/2023/QĐST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Thanh Tr, sinh năm: 1987;

Địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

2. Bị đơn: Anh Hồ Văn A, sinh năm 1987;

Địa chỉ: ấp V, xã Đ, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.

(Chị Tr có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, Anh A vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Võ Thị Thanh Tr trình bày:

Chị và anh Hồ Văn A kết hôn vào năm 2015, đăng ký kết hôn ngày 10/4/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Thạnh Phú. Quá trình sống chung chị và anh A có 01 con chung tên Hồ Hoàng H, sinh ngày 14/12/2015.

Nguyên nhân yêu cầu ly hôn: Trong thời gian chung sống cả hai có những quan điểm, suy nghĩ khác nhau dẫn đến có hành động và lời nói làm tổn thương nhau nên đã ly thân từ tháng 8/2019, không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết:

- Về hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Hồ Văn A.

- Về con chung: Con chung hiện đang sống với chị Tr nên chị Tr yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Hồ Hoàng H, sinh ngày 14/12/2015, chị không yêu cầu anh A phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Ngày 22/7/2023 chị Võ Thị Thanh Tr có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Bị đơn anh Hồ Văn A đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Thanh Tr.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về trình tự, thủ tục: Thẩm phán và Hội đồng xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa sơ thẩm. Trong quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 53, 56, 71, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Thanh Tr. Về hôn nhân: Bà Tr được ly hôn với ông A, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng nên không xem xét. Về con chung: Bà Tr được tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Hồ Hoàng H, sinh ngày 14/12/2015; hiện ông A vắng mặt trong quá trình tố tụng, không trình bày ý kiến về yêu cầu cấp dưỡng nên không xem xét. Trường hợp ông A có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con có thể khởi kiện trong một vụ án khác. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Về thẩm quyền: Anh Hồ Văn A có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp V, xã Đ, huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú theo quy định tại khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về tố tụng: Chị Võ Thị Thanh Tr có yêu cầu xét xử vắng mặt, anh Hồ Văn A đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh A vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị Tr, anh A.

Về hôn nhân: Chị Võ Thị Thanh Tr và anh Hồ Văn A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bên nào bị lừa dối hoặc bị ép buộc, cả hai có đủ điều kiện kết hôn. Việc kết hôn có đăng ký tại Uỷ ban nhân dân xã Đ, huyện Thạnh Phú và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 10/4/2015. Vì vậy quan hệ hôn nhân của chị Tr và anh A được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Chị Tr trình bày: Trong thời gian chung sống cả hai có những quan điểm, suy nghĩ khác nhau dẫn đến có hành động và lời nói làm tổn thương nhau nên đã ly thân từ tháng 8/2019, không thể hàn gắn được nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Văn A. Tòa án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh A không đưa ra ý kiến, không thể hiện ý chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Tòa án đã tạo điều kiện để chị Tr và anh A hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm nhưng anh A vắng mặt không có lý do nên từ đó có căn cứ kết luận tình trạng mâu thuẫn trong hôn nhân giữa chị Tr và anh A đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài; mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Tr là phù hợp. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn do chị Tr không có yêu cầu.

Về con chung: Chị Tr yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Hồ Hoàng H, sinh ngày 14/12/2015 và không yêu cầu anh A cấp dưỡng. Theo văn bản xác nhận ngày 21/3/2023 thì hiện nay con chung tên Hồ Hoàng H, sinh ngày 14/12/2015 đang sống chung với chị Tr tại địa chỉ khu phố A, phường B, quận 7, thành phố Hồ Chí Minh nên tiếp tục để con chung cho chị Tr nuôi dưỡng là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tr trình bày không có, anh A không có lời trình bày về tài sản. Do đó, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ kiện khác khi có yêu cầu.

Về án phí: Chị Võ Thị Thanh Tr phải nộp án phí theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 227, 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 51, 53, 56, 71, 81, 82, 83, 84, 115 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị Thanh Tr. Chị Võ Thị Thanh Tr được ly hôn với anh Hồ Văn A. Không xem xét giải quyết yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn do chị Tr không có yêu cầu.

2. Về con chung: Chị Võ Thị Thanh Tr được trực tiếp nuôi con chung tên Hồ Hoàng H, sinh ngày 14/12/2015. Chị Tr không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm con, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con khi cần thiết, anh Hồ Văn A có thể yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung; chị Võ Thị Thanh Tr có thể yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Tr trình bày không có, anh A không có lời trình bày về tài sản. Do đó, nếu có tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ kiện khác khi có yêu cầu.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Võ Thị Thanh Tr phải nộp 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0007536 ngày 21/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh Phú và đã nộp xong.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ