vanban.org

Bản án 59/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Hồng H.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Hồng H được ly hôn ông Huỳnh Cao L. Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Thị Bạch H (giới tính: Nữ), Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Hồng H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂY SƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 20/9/2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂY SƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thành Tân.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Ngô Văn Nghị;

Bà Đào Thị Thanh Phương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khánh Phước là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tham gia phiên tòa: Ông Dương Tấn Phát – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tây Sơn Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 96/2023/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hồ Thị Hồng H, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định (có mặt).

- Bị đơn: Ông Huỳnh Cao L, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Bình Định (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/02/2023 (Tòa án nhận ngày 20/3/2023) của bà Hồ Thị Hồng H, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Hồ Thị Hồng H trình bày:

Bà và ông Huỳnh Cao L tự nguyện tìm hiểu, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới theo phong tục vào năm 1991 nhưng đến ngày 14/4/2022 mới đăng ký kết hôn lại tại UBND xã Tây X, huyện T, tỉnh Bình Định.

Sau khi cưới, vợ chồng sống với nhau 31 năm, thời gian đầu hạnh phúc nhưng sau khi sinh con thì xảy ra mâu thuẫn với nguyên nhân: Tính tình không hợp, ông L không còn quan tâm lo lắng vợ con, thường xuyên đánh đập bà, xúc phạm nhân phẩm bà và gia đình bà. Gia đình hai bên nội ngoại đã khuyên bảo nhưng đều bất thành. Lần cuối cùng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, cắt đứt quan hệ tình cảm từ giữa tháng 6/2022 cho đến nay. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã xảy ra trầm trọng, tình cảm thật sự không còn yêu thương nhau nữa nên bà yêu cầu ly hôn ông Huỳnh Cao L.

- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Thị Bạch H (giới tính: Nữ), sinh ngày 10/02/1993 và Huỳnh Thị Thanh T (giới tính: Nữ), sinh ngày 08/8/1995. Hai con chung đã trưởng thành, đều có gia đình và có cuộc sống riêng nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết việc nuôi cũng như cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn, ông Huỳnh Cao L đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự nhưng ông L vắng mặt không có lý do nên không cung cấp lời khai và yêu cầu.

* Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; đồng thời đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Hồng H, xử cho bà H được ly hôn với ông Huỳnh Cao L. Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Thị Bạch H (giới tính: Nữ), sinh ngày 10/02/1993 và Huỳnh Thị Thanh T (giới tính: Nữ), sinh ngày 08/8/1995. Hai con chung đã trưởng thành nên miễn xét việc nuôi cũng như cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, bà H không yêu cầu giải quyết nên không xét. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về sự vắng mặt của bị đơn: Bị đơn là ông Huỳnh Cao L đã được Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự nhưng ông L vắng mặt không có lý do nên không cung cấp lời khai và yêu cầu. Tòa án niêm yết hợp lệ đến lần hai mà ông L vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 và điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự thì Hội đồng vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Hồng H và anh Huỳnh Cao L sống với nhau như vợ chồng từ năm 1991 nhưng đến ngày 14/4/2022 mới đăng ký kết hôn lại tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Bình Định. Theo bà H thì trong cuộc sống vợ chồng không hợp tính tình nhau. Ông L không còn quan tâm lo lắng vợ con, thường xuyên đánh đập bà, xúc phạm nhân phẩm bà và gia đình bà. Lần cuối cùng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, cắt đứt quan hệ tình cảm từ giữa tháng 6/2022 cho đến nay. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã xảy ra trầm trọng, tình cảm thật sự không còn yêu thương nhau nữa nên bà yêu cầu ly hôn ông Huỳnh Cao L. Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn đã tiến hành xác minh thu thập chứng cứ, tại biên bản xác minh ngày 15/8/2023 của Công an xã T cung cấp: Ông Huỳnh Cao L có hộ khẩu ở xóm 1, thôn P, xã Tây, huyện T, tỉnh Bình Định, hiện Huỳnh Cao L vẫn còn hộ khẩu ở địa phương chưa chuyển khẩu đi đâu. Việc ông Huỳnh Cao L không đến Tòa án làm việc, không có quan điểm gửi đến Tòa án chứng tỏ ông Huỳnh Cao L không có trách nhiệm với hôn nhân của chính mình. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H, cho bà H được ly hôn ông Lưu.

Về con chung: Bà H và ông L có 02 con chung tên Huỳnh Thị Bạch H (giới tính: Nữ), sinh ngày 10/02/1993 và Huỳnh Thị Thanh T (giới tính: Nữ), sinh ngày: 08/8/1995. Hai con chung đã trưởng thành nên miễn xét về việc nuôi cũng như cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Cần buộc bà Hồ Thị Hồng H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0007765 ngày 20/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; bà H đã nộp xong án phí.

Lời phát biểu ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tây Sơn tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hồ Thị Hồng H.

2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị Hồng H được ly hôn ông Huỳnh Cao L.

3. Về con chung: Có 02 con chung tên Huỳnh Thị Bạch H (giới tính: Nữ),

sinh ngày 10/02/1993 và Huỳnh Thị Thanh T (giới tính: Nữ), sinh ngày

08/8/1995. Hai con chung đã trưởng thành nên miễn xét về việc nuôi cũng như

cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung: Bà Hồ Thị Hồng H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

5. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Bà Hồ Thị Hồng H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0007765 ngày 20/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn; bà H đã nộp xong án phí.

6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ