- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Bạch P.
- Căn cứ chính? Điều 18 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 22 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2023/DS-ST Ngày: 26/4/2023 V/v tranh chấp: “Hợp đồng góp hụi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
* Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Văn Khỏe
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Lâu
2. Bà Âu Thị Ngọc Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Liêu, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè.
Ngày 26 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 09/2023/TLST-DS ngày 10/01/2023 về việc tranh chấp: “Hợp đồng vay tài sản và hợp đồng góp hụi”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-DS ngày 13/4//2023 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Lê Bạch P, sinh năm 1980.
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1967.
Địa chỉ: số 634, tổ 34, khu B, thị trấn C, H. Cái Bè, Tiền Giang.
(Văn bản ủy quyền ngày 30/12/2022)
* Bị đơn: 1/ Bà Lê Thị M, sinh năm 1960.
2/ Ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1963.
3/ Chị Nguyễn Thị Tuyết L, sinh năm 1985.
Cùng địa chỉ: số 361B, tổ A, khu A, TT. C, H. Cái Bè, Tiền Giang.
Ông B, chị L cùng ủy quyền cho bà Lê Thị M.
(Văn bản ủy quyền ngày 12/4/2023)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 30/12/2022 các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Nguyễn Văn T đại diện ủy quyền nguyên đơn bà Lê Bạch P trình bày:
Vào năm 2018 bà Lê Bạch P là hụi viên có tham gia chơi 02 dây hụi do các bị đơn làm đầu thảo, sau khi hốt 02 dây được số tiền 202.600.000 đồng các bị đơn không giao số tiền hụi này mà hỏi vay lại, lãi thỏa thuận 2%/tháng, sau đó trả dần cho đến nay các bị đơn còn nợ lại số tiền 139.000.000 đồng kéo dài đến nay chưa trả, dù đến đòi nhiều lần.
Do đó, nay bà P yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết buộc các bị đơn bà M, ông B và chị L có nghĩa vụ liên đới trả số tiền 139.000.000 đồng, trả một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
* Tại bản tự khai các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Lê Thị M cũng là đại diện ủy quyền của ông Nguyễn Ngọc B và chị Nguyễn Thị Tuyết L trình bày:
Bà M thừa nhận vào năm 2018 có làm đầu thảo hụi, bà P có tham gia chơi 02 dây hụi phía bà P đã hốt số tiền 202.600.000 đồng, đã giao hụi hiện còn nợ lại số tiền 139.000.000 đồng chưa trả cho bà P. Nay các bị đơn bà M, ông B, chị L đồng ý liên đới trả cho bà P số tiền hụi 139.000.000 đồng, nhưng xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ, do kinh tế gia đình đang gặp khó khăn không có khả năng trả một lần theo yêu cầu của bà P.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Ông T đại diện ủy quyền nguyên đơn bà P xác định số tiền 139.000.000 đồng bị đơn bà M, ông B và chị L nợ đây là tiền hụi, nên xác định quan hệ tranh chấp là “Hợp đồng góp hụi” theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè quy định tại Điều 26, Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Nguyên đơn bà P yêu cầu bà M, ông B và chị L có nghĩa vụ liên đới trả số tiền 139.000.000 đồng. Bị đơn bà M, ông B và chị L đồng ý trả số tiền 139.000.000 đồng, xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Xét, tại tòa ông T đại diện ủy quyền của nguyên đơn bà P với bị đơn bà M cũng là đại diện ủy quyền của ông B và chị L trình bày thống nhất việc các bị đơn còn nợ số tiền 139.000.000 đồng tiền hụi của bà P, nên lời thừa nhận nợ của các bị đơn bà M, ông B và chị L đây là tình tiết không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, nên bà P yêu cầu các bị đơn bà M, ông B và chị L có nghĩa vụ liên đới trả số tiền này là hoàn toàn có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự.
Tại phiên toà nguyên đơn, bị đơn không thỏa thuận về thời gian trả số tiền 139.000.000 đồng. Cho nên, về phương thức trả, thời gian trả số tiền này do hai bên đương sự thỏa thuận với nhau khi đến giai đoạn thi hành án.
Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện bà P, căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, nên bà M, ông B và chị L phải liên đới chịu án phí số tiền 6.950.000 đồng (Sáu triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 471, khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự; Điều 271, 272, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 18, 22 Nghị định số 144/2006/NĐ-CP ngày 27/11/2006 của Chính Phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Bạch P.
Buộc bà Lê Thị M, ông Nguyễn Ngọc B và chị Nguyễn Thị Tuyết L có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lê Bạch P số tiền hụi 139.000.000 đồng (Một trăm ba mươi chín triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
2. Về án phí: Bà Lê Thị M, ông Nguyễn Ngọc B và chị Nguyễn Thị Tuyết L liên đới chịu 6.950.000 đồng (Sáu triệu chín trăm năm mươi ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả cho bà Lê Bạch P số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0010838 ngày 10/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Lê Bạch P, bà Lê Thị M, ông Nguyễn Ngọc B và chị Nguyễn Thị Tuyết L được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
* Nơi nhận:
| - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Cái Bè; - Chi cục THADS H. Cái Bè; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hồ Văn Khỏe |