- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Quách Thị N đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Quách Thị N phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH TỈNH NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2022/HSST Ngày: 30 - 5 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NINH BÌNH - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Mão
Bà Hoàng Thị Phượng
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Việt Cường - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình - tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Lịnh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2022/TLST - HS ngày 18 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2022/QĐXXST-HS ngày 18/5/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Quách Thị N, sinh năm 19xx tại Hòa Bình (Tên gọi khác: Không); Nơi ĐKHKTT: Xóm MM, xã CH, huyện KB, tỉnh Hòa Bình; Nơi cư trú: Phố xx, phường ĐT, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 3/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn N (Đã chết) và bà Quách Thị D; Chồng: Chưa có; Con: Có 01 con sinh năm 20xx. Tiền án: Bản án số 26/2020/HSST ngày 05/3/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình xử phạt 20 triệu đồng về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong ngày 10/11/2021; Tiền sự: Chưa có. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 19/01/2022 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 19xx
Địa chỉ: Số nhà xxx, đường NCT, phố BĐ, phường NS, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Anh Trần Văn T, sinh năm 19xx
Địa chỉ: Tổ xx, phường TB, thành phố TĐ, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Chị Phạm Thị L, sinh năm 19xx
Địa chỉ: Xã YP, huyện YM, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 19xx
Địa chỉ: Phố BT, phường NS, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Chị Phạm Thị V, sinh năm 19xx
Địa chỉ: Phố TX, phường BĐ, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người làm chứng:
- Chị Nguyễn Lan A. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quách Thị N có một tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích. Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 19/11/2021, N và Trần Văn T, sinh năm 19xx, trú tại tổ xx, phường TB, thành phố TĐ, tỉnh Ninh Bình đến nhà Nguyễn Thị T sinh năm 19xx, trú tại số nhà xxx, đường NCT, phố BĐ, phường NS, thành phố NB để ngồi chơi uống nước. Sau đó có Phạm Thị L sinh năm 19xx, trú tại xã YP, huyện YM, tỉnh Ninh Bình và Nguyễn Thị P sinh năm 19xx, trú tại phố BT, phường NS, thành phố Ninh Bình đến nhà T chơi. Cả nhóm ngồi chơi khoảng 10 phút thì T rủ đánh bạc bằng hình thức đánh “Phỏm” được thua bằng tiền. T, N, P, L đồng ý. Sau đó, cả nhóm đi vào trong phòng ngủ tại tầng 1 nhà T và cùng thống nhất sử dụng bộ tú lơ khơ 52 quân có sẵn trong phòng để đánh bạc bằng hình thức đánh “Phỏm” được thua bằng tiền, với cách thức như đã được mô tả tại bản cáo trạng. Quy định tiền cược ai ít điểm nhất thì thắng và người về nhất ăn tiền của người về nhì là 20.000 đồng, người về ba là 40.000 đồng, người về bét là 60.000 đồng. Ngoài ra, các đối tượng quy định “Ù” là người chơi có được 03 phỏm sẽ được số tiền 100.000 đồng của những còn lại; “Cháy” là người chơi không có phỏm nào và phải trả cho người về nhất số tiền 80.000 đồng; “Chốt hạ” là người chơi bị ăn lá bài đánh ra ở vòng cuối cùng trước khi kết thúc ván bài phải trả cho người ăn được số tiền 80.000 đồng; “Ù đền” là người chơi bị ăn 03 lá bài trong 1 ván phải trả cho người ăn được số tiền 300.000 đồng. Trong quá trình đánh bạc, Nguyễn Thị P ngồi bên cạnh Trần Thị L và có mội vài lần lên bài chơi hộ cho L và sử dụng tiền của L để chơi. Trước khi đánh bạc, Quách Thị N có 500.000 đồng, Nguyễn Thị T có 500.000 đồng, Nguyễn Thị P có 790.000 đồng, Trần Văn T có 1.200.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày, Phạm Thị V sinh năm 19xx, trú tại phố TX, phường BĐ, thành phố NB đến nhà T chơi và xin tham gia đánh bạc cùng. Lúc này cả nhóm thống nhất chuyển sang đánh bạc bằng hình thức đánh “Liêng” được thua bằng tiền với mức chầu gà 10.000 động và cược hết láng 50.000 đồng, với cách thức như đã được mô tả tại bản cáo trạng. Trước khi đánh bạc Phạm Thị V có 500.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc cùng với cả nhóm.
Như vậy, tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 3.490.000 đồng. Khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, khi các đối tượng đang đánh bạc được thua bằng tiền thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự công an thành phố Ninh Bình bắt quả tang. Tổ công tác thu giữ dưới chiếu 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân cùng số tiền 2.190.000 đồng; ngoài ra còn thu giữ của Trần Văn T 01 ví da nam màu đen có dòng chữ “MONT BLANC” bên trong có số tiền 1.300.000 đồng; thu giữ của Nguyễn Thị T 01 túi xách nữ màu đen không nhãn hiệu bên trong có số tiền 605.000 đồng; thu giữ của Phạm Thị L 01 ví da nữ màu xám không nhãn hiệu bên trong có số tiền 8.100.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 47/CT-VKSNB ngày 17/4/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình đã truy tố bị cáo Quách Thị N về tội “Đánh bạc” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, không thay đổi, bổ sung gì và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Quách Thị N phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Quách Thị N từ 06 (Sáu) tháng đến 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/5/2022. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân phường ĐT, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình quản lý giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Bị cáo được miễn nộp án phí HSST.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 3.490.000 đồng; Tịch thu tiêu huỷ 01 bộ bài lơ khơ 52 quân.
- Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Quách Thị N thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; không có ý kiến gì với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình.
Bị cáo không tranh luận gì với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Ninh Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục được quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; Phù hợp với biên bản vi phạm hành chính, lời khai của người liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm có đủ căn cứ xác định bị cáo Quách Thị N là người đã có 01 tiền án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích. Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 19/11/2021 tại số nhà 620, đường Nguyễn Công Trứ, phố Bích Đào, phường Ninh Sơn, thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình, Quách Thị N đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền bằng hình thức đánh “Phỏm” và “Liêng” với Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị P, Trần Văn T, Phạm Thị V và Phạm Thị L với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 3.490.000 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo xâm hại trực tiếp đến trật tự công cộng, là tệ nạn xã hội, gây mất trật tự trị an, gây thiệt hại về kinh tế và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Từ tội phạm này thường là nguyên nhân, mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác. Việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này là rất cần thiết nhằm ngăn chặn tệ nạn cờ bạc đang có chiều hướng gia tăng, giữ gìn trật tự công cộng, bảo vệ sức khoẻ, tài sản của công dân. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Ninh Bình truy tố bị cáo theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đang nuôi con nhỏ và gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo. Vì vậy bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt: Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi trách nhiệm hình sự, biết rõ việc đánh “Phỏm”, đánh “Liêng” được thua bằng tiền là một hình thức đánh bạc bị Nhà nước nghiêm cấm, bản thân bị cáo đã có tiền án về tội đánh bạc, nhưng vì ham chơi, muốn thu lời bất chính nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Cần phải xử bị cáo nghiêm trước pháp luật, để bị cáo nhận thức rõ về hành vi của mình, sửa chữa sai lầm, trở thành một công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng, nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát của chính quyền cũng đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 3.490.000 đồng cơ quan Công an thu giữ là tiền bị cáo Quách Thị N cùng Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị P, Trần Văn T, Phạm Thị V và Phạm Thị L sử dụng vào việc đánh bạc nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài là vật chứng của vụ án, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Thị T, Nguyễn Thị P, Trần Văn T, Phạm Thị V và Phạm Thị L đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền với hình thức đánh “Phỏm” và đánh “Liêng” ngày 19/11/2021 nhưng số tiền T, P, Tiến, V, L sử dụng vào việc đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, bản thân T, P, T, V, L không có tiền án, tiền sự về hành vi quy định tại Điều 321 hoặc Điều 322 Bộ luật hình sự, do vậy chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Công an thành phố Ninh Bình đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với T, P, T, V, L về hành vi Đánh bạc là phù hợp.
Đối với 01 túi xách nữ màu đen không nhãn hiệu bên trong có số tiền 605.000 đồng thu giữ của Nguyễn Thị T; 01 ví da nam màu đen có dòng chữ “MONT BLANC” thu giữ của Trần Văn T; 01 ví da nữ màu xám không nhãn hiệu bên trong có số tiền 8.100.000 đồng thu giữ của Phạm Thị L. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản cá nhân của các đối tượng không liên quan tới vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Ninh Bình đã trả lại cho T, T, L là có căn cứ, đúng quy định. Sau khi nhận lại tài sản T, T, L không có yêu cầu, đề nghị gì. Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Bị cáo Quách Thị N phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Quách Thị N 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (Mười hai) tháng. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 30/5/2022.
Giao bị cáo Quách Thị N cho Uỷ ban nhân dân phường ĐT, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Quách Thị N có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân phường ĐT trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát giáo dục thực hiện theo quy định tại Điều 68 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 BLHS.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 3.490.000 đồng. Số tiền trên hiện đang quản lý tại tài khoản số 3949 của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Ninh Bình tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Ninh Bình theo Uỷ nhiệm chi lập ngày 24 tháng 5 năm 2022.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bộ tú lơ khơ 52 quân bài (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 5 năm 2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Ninh Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Ninh Bình).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Quách Thị N được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TANDtỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh Ninh Bình; - VKSNDTP Ninh Bình; - Chi Cục THADS thành phố Ninh Bình; - Công an thành phố Ninh Bình; - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình; - Bị cáo; Người liên quan; - THA hình sự; - Lưu HS vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Thị Tuyết |