- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2022/HSST Ngày: 31/8/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC KẠN – TỈNH BẮC KẠN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Hữu Thái
Bà Phạm Thị Sinh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Mai Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 8 năm 2022, tại hội trường xét xử của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn. Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2022/HSST ngày 10/8/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 0/2022/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Đặng Văn Th (tên gọi khác: Không), sinh ngày 11 tháng 5 năm 1964; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Tổ 5, phường Ng, thành phố B, tỉnh B1; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn B và bà Trần Thị E (đều đã chết); có vợ là Đỗ Thị L và có 01 con (sinh năm 1987); tiền án: Không; tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/4/2022 đến ngày 05/5/2022, hiện nay đang tại ngoại. Có mặt.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Anh Đặng Văn D, sinh năm 1987. Trú tại: Tổ 5, phường Ng, thành phố B, tỉnh B1. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 10 phút ngày 29/4/2022, tại tổ 10, phường Ng, thành phố B, tỉnh B1, đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế, ma túy Công an thành phố B bắt quả tang Đặng Văn Th có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết quả kiểm tra đã phát hiện và tạm giữ: Tại lòng bàn tay trái Đặng Văn Th 01 gói được gói bằng giấy hai mặt màu bạc, bên trong có chứa chất bột màu trắng (niêm phong trong phong bì ký hiệu T1); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng hồng bên trong có lắp 01 sim và 01 xe môtô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 97B1 – 345.48 cùng chìa khóa xe đều đã qua sử dụng.
Cùng ngày, cơ quan điều tra đã ra lệnh khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Đặng Văn Th tại tổ 5, phường Ng, thành phố B, tỉnh B. Qua khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Đặng Văn Th khai nhận: Số chất bột màu trắng được gói bằng giấy hai mặt màu bạc cơ quan công an đã thu giữ tại lòng bàn tay trái Th là ma túy loại Heroine của Th tàng trữ nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Về nguồn gốc số ma túy Đặng Văn Th khai: Khoảng 08 giờ 40 phút ngày 29/4/2022, Th một mình điều khiển xe môtô biển kiểm soát 97B1 – 345.xx đi từ nhà tại tổ 5, phường Ng, thành phố B đến khu vực cổng Bệnh viện đa khoa tỉnh B1 để tìm mua ma túy. Tại đây, Th gặp một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể, qua nói chuyện trực tiếp Th biết người này bán ma túy nên đã hỏi mua 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) ma tuý loại Heroine thì được người này bán cho 01 gói. Sau khi mua bán xong, người đàn ông đi đâu Th không biết, còn Th cất giấu ma túy trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe đi về nhà, khi đi đến khu vực tổ 10, phường Ng, thành phố B thì bị tổ công tác Công an thành phố B kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ số ma túy cùng một số đồ vật, tài sản khác.
Tiến hành cân riêng số chất bột màu trắng thu giữ của Đặng Văn Th trong phong bì ký hiệu T1 xác định được tổng khối lượng là 0,12g (Không phẩy mười hai gam). Sau khi cân xác định khối lượng, toàn bộ số chất bột màu trắng nêu trên được niêm phong trong phong bì ký hiệu A1 gửi trưng cầu giám định chất ma túy.
Tại kết luận giám định số 56/KTHS-MT ngày 08/5/2022 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh B1 kết luận: Mẫu chất màu trắng phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,12g (không phẩy mười hai gam). Sau giám định mẫu chất còn lại cùng phong bì bao gói cũ niêm phong trong phong bì T86 hoàn lại Cơ quan trưng cầu.
Tại bản cáo trạng số 36/CT-VKSTPBK ngày 09/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố đối với Đặng Văn Th về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Điều luật có nội dung:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
......
c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
......
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Kạn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 29/4/2022 đến ngày 05/5/2022.
Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu T86; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu A2.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
* Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo là không oan, đúng người, đúng tội và xin hưởng sự khoan hồng của pháp luật, hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân và Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo thống nhất với các lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có cơ sở khẳng định:
Hồi 09 giờ 10 phút ngày 29/4/2022, tại khu vực tổ 10, phường Ng, thành phố B, tỉnh B1, Tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Ma túy Công an thành phố B bắt quả tang Đặng Văn Th đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 0,12g (Không phẩy mười hai gam) ma túy, loại Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, vì vậy cần phải xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
* Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung "Phạt tiền” theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 01 điện thoại di động Iphone màu vàng hồng, bên trong có lắp 01 sim, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius biển kiểm soát 97B1 – 345.xx cùng chìa khóa xe. Quá trình điều tra đã xác định các tài sản trên là của anh Đặng Văn D. Việc bị cáo sử dụng chiếc xe vào việc đi mua ma túy anh D không biết. Do vậy, Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại và chiếc xe cùng chìa khóa xe cho anh D là đúng quy định của pháp luật.
- 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu T86 và dòng chữ: “Vụ: Đặng Văn Th (1964) tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký niêm phong không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B1. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu A2 và dòng chữ “Phong bì T1, giấy gói cũ lưu hồ sơ vụ án”, mặt sau phong bì có 07 (bảy) chữ ký niêm phong không đọc được, 01 (một) dòng chữ “Đặng Văn Th” và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn. Tất cả không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
* Trong vụ án này còn có người đàn ông đã bán ma túy cho Đặng Văn Th, do Th không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.
* Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
* Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Th phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đặng Văn Th 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 29/4/2022 đến ngày 05/5/2022
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu T86 và dòng chữ: “Vụ: Đặng Văn Th (1964) tàng trữ trái phép chất ma túy”, mặt sau phong bì có 03 (ba) chữ ký niêm phong không đọc được và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh B1. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn; 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước phong bì ký hiệu A2 và dòng chữ “Phong bì T1, giấy gói cũ lưu hồ sơ vụ án”, mặt sau phong bì có 07 (bảy) chữ ký niêm phong không đọc được, 01 (một) dòng chữ “Đặng Văn Th” và 02 (hai) dấu hình tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn.
Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận giữa Công an thành phố Bắc Kạn và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Kạn.
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
* Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh ; - VKSND thành phố; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố; - Chi cục THADS thành phố; - Sở tư pháp; - Bị cáo; - Người có QLNVLQ; - Lưu hồ sơ; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Dƣơng |