vanban.org

Bản án 59/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 06/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lường Ngọc Đ, TTTPCMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2022/HSST
Ngày: 06/12/2022

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hiến Công Hanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Viết Tác và bà Lý Thị Minh Phương

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc Anh, Thư ký Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Vương Đức Chính - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2022, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2022/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 56/2022/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lường Ngọc Đ (tên gọi khác: Không). Sinh ngày: 09/5/1992 tại huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn P, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lường Văn S và con bà Văn Thị M; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Không; nhân thân: Năm 2017 Lường Ngọc Đ bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương tuyên phạt 28 (hai mươi tám) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo bản án số: 49/2017/HSST ngày 09/8/2017. Đến ngày 04/5/2019 chấp hành xong hình phạt tù, đến nay đã được xóa án tích; ngày 12/5/2021 Lường Ngọc Đ bị Chủ tịch UBND xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 04/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt tiền số tiền 2.000.000đồng (hai triệu đồng) về hành vi Trộm cắp tài sản đến ngày 22/7/2021 Lường Ngọc Đ đã chấp hành xong khoản tiền phạt trên. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2022 cho đến nay. Tại điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn bị cáo Lường Ngọc Đ có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; người làm chứng: Ma Văn Tr, sinh năm 1990, trú tại thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 00 phút ngày 25/7/2022, Đội cảnh sát Điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an huyện C đang làm nhiệm vụ tại thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện hai đối tượng có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành tiếp cận, qua làm việc hai đối tượng đã tự nguyện xuất trình những đồ vật, tài liệu gồm:

Lường Ngọc Đ tự nguyện xuất trình từ túi quần đằng sau bên trái đang mặc 01 (một) gói giấy màu trắng được cuốn bằng băng dính màu đen, bên trong có gói giấy màu bạc chứa cục và bột màu trắng và 15 (mười lăm) viên nén màu hồng và 01 (một) xi lanh nhựa loại 03ml/cc. Tiến hành trích mẫu cục và bột màu trắng và 15 (mười lăm) viên nén màu hồng cho vào thuốc thử phát hiện nhanh các chất ma túy (thuốc thử heroine và thuốc thử ATS) do Bộ Công an sản xuất, kết quả thuốc thử Heroine chuyển sang màu tím phản ứng dương tính với ma túy, loại Heroine, thuốc thử ATS chuyển sang màu xanh phản ứng dương tính với ma túy, loại Methaphetamine (tất cả được niêm phong vào phong bì ký hiệu Đ1).

Tiến hành kiểm tra người và phương tiện của Ma Văn Tr không phát hiện đồ vật tài liệu gì liên quan đến ma túy. Tạm giữ của Tr 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ đen, BKS 97F8- 9390.

Tại biên bản mở niêm phong và cân xác định khối lượng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C lập hồi 18 giờ 15 phút, ngày 25 tháng 7 năm 2022 xác định: Cân riêng toàn bộ cục và bột màu trắng trong phong bì ký hiệu Đ1 có khối lượng là 9,46g (chín phẩy bốn sáu gam); Cân riêng 15 (mười lăm) viên nén màu hồng trong phong bì ký hiệu Đ1 có khối lượng là 1,40g (một phẩy bốn không gam). Cho riêng vào trong phong bì mới Đ2 để gửi Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn giám định. Còn vỏ phong bì niêm phong ban đầu Đ1, 01 (một) gói giấy màu trắng, được cuốn bằng băng dính màu đen và gói giấy màu bạc được cho vào trong phong bì mới niêm phong ký hiệu Đ3.

Tại Kết luận giám định số: 156/KL-KTHS ngày 30 tháng 7 năm 2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn Kết luận:

- Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột bên trong phong bì ký hiệu Đ2 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 9,46g (chín phẩy bốn sáu gam).

- 15 (mười năm) viên nén màu hồng trong phong bì ký hiệu Đ2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 1,40g (một phẩy bốn không gam).

Quá trình điều tra, truy tố Lường Ngọc Đ khai nhận: 01 (một) gói giấy màu trắng được cuốn bằng băng dính màu đen, bên trong có gói giấy màu bạc chứa cục và bột màu trắng và 15 (mười năm) viên nén màu hồng mà Cơ quan Công an thu giữ khi bắt quả tang là ma túy, loại Heroine và loại Methamphetamine (ma túy tổng hợp) do Đ mua về với mục đích sử dụng cá nhân. Cụ thể: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 25/7/2022, Đ gặp Ma Văn Tr đang uống nước ở tại Cổng trung tâm y tế huyện C nên đã rủ Tr xuống thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên chơi, Tr đồng ý rồi giao xe mô tô BKS 97F8- 9390 cho Đ điều khiển. Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày cả hai cùng xuống đến khu vực ngã tư đèn xanh đèn đỏ thuộc thị trấn C, huyện Đ. Đ cho Tr xuống xe đứng đợi, rồi một mình điều khiển xe đi lên khu chợ thuộc thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây Đ gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết họ, tên, địa chỉ trông giống người nghiện nên Đ đã hỏi mua ma túy, Heroine với số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng) và 15 (mười lăm) viên ma túy tổng hợp với số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) thì được người đàn ông trên đồng ý bán. Đ đưa cho người đàn ông trên tổng số tiền 11.000.000đ (mười một triệu đồng) rồi đứng đợi, khoảng 15 phút sau người đàn ông này quay lại đưa cho Đ 01 (một) gói giấy màu trắng được cuốn bởi băng dính màu đen. Sau khi mua được ma túy Đ cất vào túi quần đằng sau bên trái Đ đang mặc, rồi điều khiển xe đón Tr cùng nhau đi về, khi đến đoạn đường liên xã thuộc thôn Kh, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị Công an huyện C bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy của Đ. Đ không nói cho Tr biết việc Đ đi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tiến hành xác minh, lấy lời khai: Ma Văn Tr khai phù hợp với lời khai của Lường Ngọc Đ và các tài liệu thu thập được. Bản thân Tr không biết việc Đ rủ đi thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên với mục đích để tìm mua ma túy. Đến khi Công an bắt quả tang thấy Đ xuất trình gói ma túy từ túi quần đằng sau bên trái Đ đang mặc thì Tr mới biết Đ có tàng trữ trái phép chất ma túy.

Tại bản cáo trạng số: 52/CT-VKSCĐ ngày 17/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Lường Ngọc Đ về tội "tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, sau phần xét hỏi tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C thực hành quyền công tố đã luận tội đối với bị cáo, phân tích, đánh giá tính chất nguy hiểm của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đồng thời giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lường Ngọc Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lường Ngọc Đ từ 06 đến 07 năm tù.

Phạt bổ sung là phạt tiền không áp dụng đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

Tịch thu tiêu hủy 01 xi lanh nhựa, vỏ bao bì gói cũ ban đầu và số ma túy còn lại sau giám định;

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ đen, BKS 97F8- 9390. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là thuộc sở hữu hợp pháp của Ma Văn Tr. Ngày 25/7/2022, khi giao xe cho Đ điều khiển để chở cả hai xuống thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì Tr không biết mục đích của Đ là đi tìm mua ma túy và tàng trữ ma túy để sử dụng. Tr có đơn xin lại tài sản, ngày 15/8/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã trả lại chiếc xe trên cho Tr.

- Án phí: Áp dụng Điều 135 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 25/7/2022, tại khu vực chợ thuộc thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái nguyên, Lường Ngọc Đ đã có hành vi mua trái phép 10,86g (mười phẩy tám sáu gam) ma túy, trong đó 9,46g (chín phẩy bốn sáu gam) ma túy loại Heroine và 1,40g (một phẩy bốn không gam) ma túy, loại Methamphetamine với số tiền là 11.000.000đ (mười một triệu đồng) với một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết họ, tên, địa chỉ để sử dụng cá nhân. Đến hồi 15 giờ 00 phút cùng ngày khi về đến khu vực thôn K, xã B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị Công an huyện C phát hiện, bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy trên.

Hành vi của Lường Ngọc Đ là rất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Kết quả tranh tụng tại phiên toà phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Khi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật nhưng vì bản thân bị cáo có sử dụng chất ma túy nên để thoả mãn nhu cầu của bản thân bị cáo vẫn thực hiện. Hội đồng xét xử xác định: Hành vi tàng trữ 10,86g (mười phẩy tám sáu gam) ma túy, trong đó 9,46g (chín phẩy bốn sáu gam) ma túy loại Heroine và 1,40g (một phẩy bốn không gam) ma túy, loại Methamphetamine của bị cáo cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 52/CT-VKSCĐ ngày 17/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo thực hiện: Hành vi phạm tội của bị cáo lthuộc trường hợp rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự xã hội tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân nên cần xử lý nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, ngoài ra bị cáo có bố đẻ là Lường Văn S được Nhà nước tặng thưởng Huy chương chiến sỹ vẻ vang nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Năm 2017 Lường Ngọc Đ bị Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Hải Dương tuyên phạt 28 (hai mươi tám) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo bản án số: 49/2017/HSST ngày 09/8/2017. Đến ngày 04/5/2019 chấp hành xong hình phạt tù, đến nay đã được xóa án tích. ngày 12/5/2021 Lường Ngọc Đ bị Chủ tịch UBND xã Q, huyện C, tỉnh Bắc Kạn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 04/QĐ-XPHC bằng hình thức phạt tiền số tiền 2.000.000đồng (hai triệu đồng) về hành vi Trộm cắp tài sản đến ngày 22/7/2021 Lường Ngọc Đ đã chấp hành xong khoản tiền phạt trên. Như vậy, xác định bị cáo có nhân thân xấu.

Về hình phạt:

Về hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng có mức hình phạt đến 10 năm tù, mức hình phạt tù đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa đều nằm trong khung hình phạt quy định của điều luật truy tố nên được chấp nhận.

Hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa có căn cứ xác định bị cáo là lao động tự do, gia đình thuộc diện hộ nghèo, bản thân bị cáo không có tài sản riêng và thu nhập ổn định vì vậy miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định và các bao bì liên quan đến việc niêm phong ma túy.

Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ đen, BKS 97F8- 9390. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên là thuộc sở hữu hợp pháp của Ma Văn Tr mua tại một cửa hàng mua bán xe máy tại thành phố Bắc Kạn. Ngày 25/7/2022, khi giao xe cho Đ điều khiển để chở cả hai xuống thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì Tr không biết mục đích của Đ là đi tìm mua ma túy và tàng trữ ma túy để sử dụng. Tr có đơn xin lại tài sản, ngày 15/8/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại chiếc xe trên cho Tr là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Đối với người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) theo lời khai của bị cáo Lường Ngọc Đ khai là người đã bán ma túy Heroine cho bị cáo tại khu vực chợ thuộc thị trấn C, huyện , tỉnh Thái nguyên. Kết thúc điều tra Lường Ngọc Đ không cung cấp được danh tính, địa chỉ cụ thể nên không đủ căn cứ để điều tra, xử lý.

Đối với Ma Văn Tr (là chủ sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu đỏ đen, BKS 97F8- 9390). Qua điều tra xác định được, ngày 25/7/2022, khi giao xe cho điều khiển để chở cả hai xuống thị trấn C, huyện , tỉnh Thái Nguyên thì T không biết mục đích của Đ là đi tìm mua ma túy và tàng trữ ma túy để sử dụng. Do vậy Cơ quan CSĐT không xem xét xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bố bị cáo Lường Ngọc Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lường Ngọc Đ 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/7/2022.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu T154 (bên trong phong bì chứa 9,39 g ma túy loại Heroine, 1,32g ma túy loại Methaphetamine cùng phong bì Đ2 và bao gói cũ) của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn hoàn trả lại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C;

- 01 (một) phong bì đã được niêm phong theo quy định ký hiệu Đ3, bên trong chứa vỏ phong bì niêm phong Đ1, bao gói cũ ban đầu.

- 01 (một) xi lanh nhựa loại 03ml/cc

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện C).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH. Bị cáo phải nộp 200.000,đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

"Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự ".

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ