vanban.org

Bản án 59/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long Tuyên án 28/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội “Vi phạm quy định v tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Bào 40.

Về trách nhiệm nộp án phí: Về quyền kháng cáo: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án vi pham quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, b…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội “Vi phạm quy định v tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Bào 40.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2022/HS-ST.
Ngày: 25 - 8 - 2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thanh Hồng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Huỳnh Thị Chi.

Bà Lê Thị Tú Anh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Minh Bảo - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố V, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố V tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 8 năm 2022 tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố V đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 49/2022/TLST-HS, ngày 05 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh B, sinh năm 1977 tại huyện G, tỉnh Tiền Giang.

Nơi cư trú: Ấp H, xã V, huyện G, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1946 và bà Lê Thị C, sinh năm 1945; có vợ là Trần Thị Kim T, sinh năm 1981 và 01 người con tên Nguyễn Trần Ngân K, sinh ngày 04 tháng 5 năm 2018; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Tốt; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/5/2022 cho đến nay, bị cáo có mặt.

- Người bị hại: Bà Lã Thị V, sinh năm 1941 (chết).

- Người đại diện theo pháp luật của bị hại (bà V): Ông Nguyễn Quốc T, sinh năm 1960; nơi cư trú: Ấp L, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang, có mặt.

- Người làm chứng: Anh Trần Duy P, sinh năm 1998; nơi cư trú: Ấp K, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 08/02/2022, Nguyễn Thanh B điều khiển xe mô tô biển kiểm soát số 63H2 - 9532 đi từ nhà ở ấp T, xã N, huyện C , tỉnh Đồng Tháp để đến Bệnh viện T - L thuộc phường T, thành phố V để khám bệnh, B điều khiển xe lưu thông trên Quốc lộ 80 đi ở làn đường bên phải theo hướng từ Đồng Tháp đến Vĩnh Long và đi gần lề phải. Khi đi đến Km 00 + 280, Quốc lộ 80, phường T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long thì B bị đau lưng, lúc này B lo suy nghĩ không biết bị bệnh gì nên không tập trung chú ý quan sát phía trước, dẫn đến xe môtô biển kiểm soát số 63H2 - 9532 va chạm vào người bà Lã Thị V, sinh năm 1941; nơi cư trú: Số nhà 10, khóm T, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long đang đi bộ cùng chiều phía trước làm bà V té ngã xuống đường, xe môtô của B điều khiển tiếp tục chạy về trước một đoạn và dừng lại bên lề phải. Lúc này, B xuống xe đi lại vị trí bà V thì bà V đã bất tỉnh nên B đã cùng với người đi đường chở bà V đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Long để cấp cứu, còn xe môtô của B để tại hiện trường và gửi xe cho chị Trần Thị Bé H, sinh năm 1988; nơi cư trú: Số nhà 44, khóm T, phường H, thành phố V giữ. Sau đó, chị H đã điều khiển xe chạy về nhà tại nhà số 44, khóm T, phường H, thành phố V và chị H nói với ông Trần Văn H nghe H nói “Xe môtô biển số 63H2 - 9532 là xe người ta đụng ngoài cầu”, nghe vậy ông H đã đem xe môtô đến Công an phường H, thành phố V để trình báo sự việc và giao nộp lại xe môtô biển kiểm soát số 63H2 - 9532. Sau khi nhận được tin báo của ông Trần Văn H về vụ tai nạn trên, Công an phường H tiến hành xuống hiện trường để xác minh, nắm tình hình và thông báo cho Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Vĩnh Long tiến hành khám nghiệm hiện trường. Phòng cảnh sát giao thông và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đến và tiến hành khám nghiệm thì hiện trường đã không còn nguyên vẹn do sau khi xảy ra tai nạn Nguyễn Thanh B đã đưa nạn nhân đi cấp cứu và xe môtô 63H2 - 9532 đã không còn tại hiện trường.

Căn cứ vào tài liệu chứng cứ ban đầu được Phòng cảnh sát giao thông Công an tỉnh Vĩnh Long thu thập, Cơ quan điều tra tiến hành dựng lại hiện trường vụ tai nạn, kết quả xác định như sau:

- Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường thẳng được trải nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 11 mét, phần đường nơi xảy ra tai nạn là phần đường bên phải theo hướng từ Đồng Tháp về Vĩnh Long rộng 5,50 mét, tầm nhìn không bị che khuất. Chọn trụ điện nằm trong lề phải làm điểm mốc. Chọn mép đường bên phải theo hướng Đồng Tháp đi Vĩnh Long làm lề chuẩn.

+ Xe môtô biển kiểm soát số 63H2 - 9532 không ngã, dừng trên mặt đường, tâm trục trước trùng lề chuẩn, tâm trục sau đo đến lề chuẩn là 0,30 mét, đo đến đỉnh đầu nạn nhân là 11,70 mét.

+ Nạn nhân ngã đầu hướng về Đồng Tháp, chân hướng về Vĩnh Long và chếch vào lề chuẩn, đỉnh đầu nạn nhân đo đến lề chuẩn là 01 mét, đo đến điểm mốc là 19,70 mét, đo đến biển báo hết khu dân cư là 38,30 mét

- Vùng va chạm được xác định nằm trên mặt đường, tâm vùng va chạm đo đến lề chuẩn 1,10 mét, đo đến điểm mốc 20,60 mét, đo đến đỉnh đầu nạn nhân 1,20 mét, đo đến bánh sau xe môtô 63H2 - 9532 là 12,70 mét.

- Kết luận giám định pháp y tử thi số 11/2022/TTh ngày 18/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Long kết luận: “Nguyên nhân dẫn đến bà Lã Thị V tử vong là do chấn thương sọ não”.

- Lỗi vi phạm và nguyên nhân vụ tai nạn được xác định: Nguyễn Thanh B điều khiển xe môtô biển kiểm soát số 63H2 - 9532 không chú ý quan sát vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ; bà Lã Thị V không có lỗi.

Tại bản Cáo trạng số: 49/CT-VKSND-TPV ngày 04/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo Nguyễn Thanh B về tội “Vi phạm quy định v tham gia giao thông đương bộ'' theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Sau khi bị cáo nghe Kiểm sát viên đọc xong Cáo trạng bị cáo không có ý kiến gì và đồng ý với nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố V đã truy tố đối với bị cáo về tội “Vi phạm quy định v tham gia giao thông đường bộ”.

Sau khi nghe lời trình bày của bị cáo, đại diện bị hại tại phiên tòa. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo Cáo trạng số: 49/CT-VKSND-TPV ngày 04/8/2022 mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo Nguyễn Thanh B về tội “Vi phạm quy định v tham gia giao thông đường bộ'' theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Khi luận tội nhận định, lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, Kiểm sát viên đưa ra các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, từ đó đề nghị phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo theo tội danh, điều luật mà Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, về phần dân sự Kiểm sát viên đề không xem xét, vì trước đó các bên tự thỏa thuận xong và đề nghị buộc bị cáo chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Bị cáo có ý kiến tham gia tranh luận, xin được áp dụng hình phạt tiền, bị cáo sẽ lo và sẽ có điều kiện lao động nuôi sống gia đình, vì vợ đang thất nghiệp không có việc làm.

Đại diện bị hại có mặt tại phiên tòa, có ý kiến không yêu cầu về trách nhiêm dân sự do tự thỏa thuận xong và xin cho bị cáo không ở tù để lo cho gia đình.

Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: “Bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là sai trái, bị cáo rất ăn năn, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được phạt ti n có đi u kiện lo cho gia đình và con còn nhỏ”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị cáo, đại diện bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự có quy định: “Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định v an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt ti n t 30.000.000 đến 100.000.000 đồng, phạt c i tạo không giam gi đến 03 năm ho c phạt tù t 01 năm đến 05 năm”:

a) Làm chết người.

Trong vụ tai nạn giao thông này lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, bị cáo điều khiển phương tiện giao thông mà mất tập trung, không chú ý quan sát, gây ra tai nạn làm cho bà Vui tử vong. Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo, lời nhận tội của bị cáo đã phù hợp với các chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường vụ án. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố bị cáo Nguyễn Thanh B về tội “Vi phạm quy định v tham gia giao thông đường bộ '' theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, bị cáo tham gia giao thông, điều khiển xe môtô là nguồn nguy hiểm cao độ, chỉ vì lơ là, thiếu quan sát mà để xảy ra tai nạn, xâm hại đến tính mạng của người khác, nên hậu quả xảy ra, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên bị cáo phải chịu hình phạt do hành vi của bị cáo đã gây ra.

Xét về nhân thân của bị cáo, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, là người lao động chân chính, không có tiền án, tiền sự, khi phạm tội bị cáo chủ động đưa nạn nhân đi cấp cứu và trình báo với cơ quan chức năng, sau khi phạm tội quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thật thà khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại, được đại diện bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự và xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo phạm tội lần đầu, bị cáo có nhiều bệnh cần điều trị, con bị cáo còn nhỏ, bị cáo là lao động chính trong gia đình, vợ không có việc làm, nên có căn cứ cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy nếu áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo trong trường hợp này thì sẽ gây cho gia đình bị cáo lâm vào hoàn cảnh khó khăn thêm, nên chỉ cần áp dụng hình phạt tiền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự cũng tương xứng với hành vi mà bị cáo đã vi phạm, đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và cũng tạo điều kiện cho bị cáo có điều kiện trị bệnh, có điều kiện lao động có thu nhập để nuôi sống cho gia đình, giảm bớt gánh nặng cho người thân và xã hội, thể hiện chính sách khoan hồng của Nhà nước đối với bị cáo.

Đối với Kiểm sát viên, khi luận tội cũng cho rằng lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo, lời buộc tội hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Kiểm sát viên cũng đã đưa ra các tình tiết giảm nhẹ phù hợp với quy định của pháp luật. Từ những căn cứ nêu trên, Kiểm sát viên đề nghị mức hình phạt cho bị cáo không phải là không có căn cứ. Tuy nhiên, với nhận định vừa nêu trên, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo trong trường hợp này là hợp lý; về án phí Kiểm sát viên đề nghị là đúng quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi xảy ra sự việc bị cáo Nguyễn Thanh B đã tự nguyện bồi thường cho ông Nguyễn Quốc T (con ruột bà V) là người đại diện theo pháp luật của bà Lã Thị V số tiền 56.000.000 đồng hổ trợ chi phí đám tang cho bà V nên ông T không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm, nên không phải đề cập tại tòa.

Về vật chứng, hiện nay Cơ quan điều tra đã giải quyết trong giai đoạn điều tra, nên không đề cập xử lý trước tòa. Đối với xe môtô biển kiểm soát số 63H2 - 9532 có tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự tại Công ty Cổ phần bảo hiểm Bưu điện. Ngày 01/3/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V có văn bản yêu cầu Tổng Công ty Cổ phần bảo hiểm Bưu điện trả lời về việc giải quyết bồi thường hợp đồng bảo hiểm, tuy nhiên đến nay phía Công ty bảo hiểm vẫn chưa có văn bản trả lời. Qua làm việc, bị cáo Nguyễn Thanh B có ý kiến việc yêu cầu Công ty bảo hiểm giải quyết hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự trong vụ tai nạn trên bị cáo sẽ tự liên hệ yêu cầu Công ty giải quyết, không yêu cầu xem xét giải quyết trong vụ án này, nên không phải xem xét giải quyết trong vụ án này.

Bị cáo còn phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội “Vi phạm quy định v tham gia giao thông đường bộ”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Bào 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng).

2. Về trách nhiệm nộp án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh B phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, đại diện theo pháp luật của bị hại (ông T) có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. N i nh n:

Cỡ chữ