vanban.org

Bản án 59/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 08/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N 08 (tám) năm tù về tội “mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26-6-2022. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu N phạm tội “mua bán trái phép chất ma tuý” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2022/HS-ST
Ngày: 08-11-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Phạm Minh Tú.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Hùng

Ông Tạ Kỳ Trung.

- Thư ký phiên toà: ông Trần Thế Sự - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia phiên toà: bà Lê Huỳnh Như Nguyện – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2022, tại văn phòng khu phố AK, phường AT, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 59/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu N, sinh năm 2001, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: khu phố AK, phường AT, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ; vợ, con: không có; tiền án, tiền sự: không có; bị tạm giữ ngày 26/6/2022, tạm giam ngày 05/7/2022 đến nay; bị cáo có mặt tại phiên toà.

Người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1999; Địa chỉ: khu phố AK, phường AT, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh-có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 14 giờ 20 phút ngày 26/6/2022, Công an thị xã Trảng Bàng bắt quả tang Nguyễn Hữu N đang bán trái phép 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng được bịt kín, bên trong có chứa tinh thể trong suốt (nghi là chất ma túy, ký hiệu M) với số tiền 500.000 đồng cho Nguyễn Mạnh K, sinh năm 1989 và Lê Trường N, sinh năm 2003 tại phía trước nhà nghỉ “TP” thuộc khu phố AB, phường AT, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Thu giữ tiền Việt Nam 500.000 đồng và một số vật chứng khác có liên quan.

Qua điều tra, thể hiện: Vào khoảng 13 giờ 50 phút ngày 26/6/2022, do có nhu cầu sử dụng chất ma túy nên Nguyễn Mạnh K và Lê Trường N mỗi người hùn số tiền 250.000 đồng để mua chất ma túy; K gọi điện thoại cho Nguyễn Hữu N hỏi mua chất ma túy với số tiền 500.000 đồng thì N đồng ý bán và hẹn địa điểm giao nhận tại phía trước nhà nghỉ “TP”. Sau đó, N điều khiển xe môtô biển số 70L1-672.65 đến khu vực xã PH, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh gặp người thanh niên tên “Kh” khoảng 30 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 01 đoạn ống hút bên trong có chứa chất ma túy với số tiền 400.000 đồng đem về bán cho K và nhận số tiền 500.000 đồng từ Nhật thì bị bắt quả tang.

Ngoài ra, từ ngày 15/3/2022 đến ngày 23/6/2022, N còn bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Mạnh K được 02 lần, bán cho Lê Nhứt Kh, sinh năm 2001 được 05 lần; mỗi lần bán 01 tép với số tiền từ 200.000 đồng đến 500.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 755/KL-KTHS ngày 03/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Tinh thể rắn trong suốt, ký hiệu M là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0880 gam.

Tại Cáo trạng số 62/CT-VKSTrB ngày 30 tháng 9 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng đã truy tố bị cáo N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ tại các điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N mức án từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 6 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Bị cáo không có tài sản nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của Nguyễn Hữu N, Nguyễn Mạnh K, Lê Nhứt Kh, Lê Trường N đã bị Công an thị xã Trảng Bàng xử phạt vi phạm hành chính.

Riêng người thanh niên mà N khai có bán chất ma túy cho N, hiện không rõ họ tên, địa chỉ và chưa làm việc được; Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ để xử lý sau.

Tại phiên toà bị cáo N thừa nhận toàn bộ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình như cáo trạng truy tố. Bị cáo thống nhất nội dung bản Cáo trạng cũng như bản luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.

Người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Hữu T trình bày: Anh T là anh ruột của bị cáo N. Xe mô tô biển số 70L1-672.65 là của Anh T. Việc bị cáo N dùng xe mô tô biển số 70L1-672.65 để đi mua ma túy sử dụng anh không biết. Nay anh đã nhận lại xe mô tô biển số 70L1-672.65 và không có yêu cầu gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Trảng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Lời khai của bị cáo tại phiên toà là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 15/3/2022 đến ngày 23/6/2022, bị cáo Nguyễn Hữu N bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Mạnh K, Lê Nhứt Kh được 07 lần. Tiếp tục vào ngày 26/6/2022, N bán 0,0880 gam chất ma túy, loại Methamphetamine cho K và Lê Trường N với số tiền 500.000 đồng tại khu phố AB, phường AT, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh thì bị bắt quả tang.

Căn cứ vào Kết luận giám định số 755/KL-KTHS ngày 03/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Tinh thể rắn trong suốt, ký hiệu M là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0880 gam.

Do đó đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Hữu N về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây ảnh hưởng đến sức K con người và đời sống xã hội, bị cáo là người nghiện ma túy, do muốn thu lợi bất chính cao, để có tiền tiêu xài và có ma túy để sử dụng, nên bị cáo hoạt động mua bán trái phép chất ma túy nhiều lần cho nhiều người, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, bất chấp pháp luật. Nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử còn xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cụ thể:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú khai ra những lần phạm tội trước đó, và bị cáo có ông nội là người tham gia kháng chiến chống Mỹ được Hội Đồng Nhà Nước tặng huy chương kháng chiến hạng ba vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước theo quyết định số 103/KT-HĐNN ngày 03 tháng 5 năm 1988 của Hội Đồng Nhà Nước. Bên cạnh đó, bà nội của bị cáo được chủ tịch nước tặng huy chương kháng chiến hạng ba vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước theo quyết định số 55/KT-CTN ngày 14 tháng 11 năm 1997, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra, xác minh bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy: của Nguyễn Hữu N, Nguyễn Mạnh K, Lê Nhứt Kh, Lê Trường N đã bị Công an thị xã Trảng Bàng xử lý vi phạm hành chính.

Riêng người thanh niên mà N khai có bán chất ma túy cho N, hiện không rõ họ tên, địa chỉ và chưa làm việc được; Cơ quan điều tra đang tiếp tục làm rõ để xử lý sau.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 bật lửa màu đỏ; 01 ống hút nhựa màu trắng, một đầu nhọn, một đầu bằng; 01 chai nhựa, trên thân chai có chữ Tea + Plus, nắp màu đỏ, trên nắp có hai lỗ tròn, một lỗ có gắn một ống hút nhựa màu đen, lỗ tròn còn lại gắn một ống thủy tinh trong suốt dạng phễu, không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.

Đối với tiền Việt Nam 500.000 (Năm trăm nghìn) đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, số IMEI 1: 352747617540505, số IMEI 2: 352747617554977 và 01 sim điện thoại số 0969.992.711, điện thoại bị bể màn hình, dùng vào việc phạm tội và do phạm tội mà có nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda, loại xe Winner, màu sơn xanh-trắng-đen, số máy KC26E1249235, số khung 2605JY204668, dung tích xi lanh 149cm3, biển số 70L1-672.65 là của anh Nguyễn Hữu T, bị cáo N mượn xe của Anh T làm phương tiện đi lại, Anh T không biết bị cáo N điều khiển xe để mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Trảng Bàng đã trả lại xe cho Anh T, Anh T không yêu cầu gì thêm, nên không đặt ra giải quyết.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tại phiên tòa về mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều

51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu N 08 (tám) năm tù về tội “mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 26-6-2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 bật lửa màu đỏ;

+ 01 ống hút nhựa màu trắng, một đầu nhọn, một đầu bằng;

+ 01 chai nhựa, trên thân chai có chữ Tea + Plus, nắp màu đỏ, trên nắp có hai lỗ tròn, một lỗ có gắn một ống hút nhựa màu đen, lỗ tròn còn lại gắn một ống thủy tinh trong suốt dạng phễu.

- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước :

+ Tiền Việt Nam 500.000 (Năm trăm nghìn)đồng;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11, màu xanh, số IMEI 1: 352747617540505, số IMEI 2: 352747617554977 và 01 sim điện thoại số 0969.992.711, điện thoại bị bể màn hình.

Ghi nhận anh Nguyễn Hữu T đã nhận lại xe mô tô hiệu Honda, loại xe Winner, màu sơn xanh-trắng-đen, số máy KC26E1249235, số khung 2605JY204668, dung tích xi lanh 149cm3, biển số 70L1-672.65, Anh T không yêu cầu gì thêm, nên không đặt ra giải quyết.

3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Hữu N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: bị cáo N, Anh T có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ