- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án Nguyễn Phúc V phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (đ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc V phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2022/HS-ST Ngày: 14-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Đức Thiện
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tán Nghị
2. Bà Lê Thị Hoàng Thương
- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Trung Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 9 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2022/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Phúc V; tên gọi khác: không có. Sinh ngày: 20/9/1985 tại tỉnh G. Trú tại: đường C, tổ 03, phường L, thành phố K, tỉnh G; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Phúc H (sinh năm 1958) và bà Nguyễn Thị H (sinh năm 1960). Vợ: Nguyễn Thị Vân A (sinh năm 1986). Có 02 con: Lớn sinh năm 2007 và nhỏ sinh năm 2018.
Tiền án: Ngày 28/9/2021, bị Toà án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt số tiền 35.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự theo Bản án số 59 /2021/HS-ST.
Tiền sự: không.
Bị cáo hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; Trú tại: Thôn Đ, xã N, huyện V, TP. Đ (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Nguyễn Tuấn Hoài N1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Tổ 02, Thôn Đ, xã N, huyện V, thành phố Đ (là con ruột của bà N). Ông N1 có mặt.
- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Vận tải và Thương mại A; Trụ sở: L5, phường Xuân, quận C, thành phố Đ. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Mậu B; chức danh: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm giám đốc. Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Thái Hoàng L, sinh năm 1984; chức danh: Phó giám đốc (Theo Giấy uỷ quyền số 03/2021/UQ ngày 25/03/2022 của Giám đốc Công ty TNHH Vận tải và Thương mại At). Ông L có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 25/3/2022, Nguyễn Phúc Vt (có giấy phép lái xe hạng E, FC theo quy định) điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 43H-005.69 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 43R-029.15 lưu thông trên đường Trường Sơn theo hướng QN - ĐN. Khi đi đến Km22+75 (đoạn đường này có dải phân cách mở để cho xe quay đầu) thuộc thôn Đ, xã N, huyện V, TP. Đ, V có ý định di chuyển vào làn đường trong cùng bên phải (làn đường dành cho xe mô tô và xe đạp) để tạo khoảng trống thuận lợi cho việc chuyển hướng quay đầu sang phần đường ngược lại. V quan sát phía sau bên phải có xe mô tô 43C1-137.01 do bà Nguyễn Thị N đang điều khiển lưu thông cùng chiều ở làn đường trong cùng và cách đuôi xe khoảng 20m. V điều khiển xe di chuyển vào làn đường trong cùng bên phải và quan sát thấy xe mô tô của bà N đã di chuyển qua được hơn nửa thân xe ô tô 43H-005.69. V tiếp tục điều khiển xe lấn sang làn xe mô tô và quan sát phía trước để chuẩn bị quay đầu xe thì xảy ra va chạm với đuôi xe mô tô 43C1-137.01 gây ra tai nạn. Hậu quả của vụ tai nạn làm bà Nguyễn Thị N bị thương nặng và chết tại bệnh viện. Theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 38/TgT ngày 21/4/2022 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế TP. Đ, kết luận nguyên nhân tử vong của chị Nguyễn Thị N là do bị đa chấn thương, ngừng hô hấp, ngừng tuần hoàn, tử vong.
Tang vật tạm giữ:
- 01 xe ô tô biển kiểm soát 43H-005.69 kéo theo rơ moóc 43R-029.15; 01 Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số 3805772 đối với ô tô 43H-005.69; 01 Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số 3805773 đối với xe rơ moóc 43R-029.15 và 01 Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô biển kiểm soát 43H-005.69.
- 01 xe mô tô biển kiểm soát 43C1-137.01.
- 01 Giấy phép lái xe hạng E, FC số 640155057278, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Gi cấp ngày 15/7/2019 mang tên Nguyễn Phúc V.
Khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông thể hiện:
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông là đường Trường Sơn thuộc địa phận thôn Đ, xã N, huyện V, thành phố Đà Nẵng. Phần đường xe chạy cùng chiều nhau rộng 9,93m, được chia làm 03 làn đường bởi vạch kẻ đường màu vàng không liên tục rộng lần lượt từ phải sang trái theo hướng đi là 2,73m, 3,45m và 3,75m. Mặt đường được trải thảm nhựa bằng phẳng, tầm nhìn không bị hạn chế, khoảng rộng giữa hai dãy phân cách (nơi qua đường) là 29m. Chọn trụ điện XLPNAM 12B nằm trên lề đường bên phải (tính theo hướng QN đi ĐN) làm mốc chuẩn. Tất cả các dấu vết, số đo đều được kéo vuông góc với mép đường bên phải theo hướng QN đi ĐN làm chuẩn. Quá trình khám nghiệm ghi nhận:
Sau tai nạn, đầu kéo kéo theo rơ moóc dừng trên đường, đầu xe quay về hướng ĐN (đầu kéo biển số 43H-005.69; rơ moóc biển số 43R-029.15). Trục trước đầu kéo cách mép lề chuẩn 0,83m, trục sau đầu kéo cách mép chuẩn 0,6m, trục trước bên phải đầu kéo cách trụ điện XLPNAM 12B 16,25m, trục trước bên trái đầu kéo cách điểm vuông góc của dãy phân cách (nơi qua đường) hướng QN 9,70m. Trục sau rơ moóc cách mép chuẩn 1,03m.
Sau tai nạn, xe mô tô biển số 43C1-137.01 ngã sang trái nằm trên mặt đường, xe nằm ngang, đầu xe hướng vào lề đường. Trục trước xe mô tô cách mép chuẩn 1m, trục sau xe mô tô cách mép lề chuẩn 0,25m, trục sau xe mô tô cách mép lề chuẩn 0,25m, trục sau xe mô tô cách trục sau bên phải lốp thứ 3 của xe rơ moóc 0,7m. Trên mặt đường xe mô tô để lại hai vết cày xước không liên tục dài 3,56m, đầu vết xước cách mép lề chuẩn 0,55m, cuối vết xước là ngay trục gác chân sau bên trái xe mô tô.
Sau tai nạn để lại vùng mảnh vỡ trên mặt đường vị trí giữa đuôi xe mô tô và trục sau bên phải lốp thứ 3 của xe rơ moóc kích thước (0,5x0,4)m, tâm vùng mảnh vỡ cách mép lề chuẩn 0,7m.
Kết quả khám nghiệm xe ô tô 43H-005.69 kéo theo rơ moóc 43R-029.15 thể hiện:
Mặt hông ngoài lốp thứ 2 bên phải từ trước ra sau có một mảng dấu vết làm bào mòn su và dính lại sơn màu vàng của xe có liên quan kích thước trên diện (30x20)cm. Tâm vết nằm ngay trên ký hiệu trên mặt hông lốp ngoài có ký hiệu chữ IC (+154/15K120PS+).
Mặt ngoài phía trước đầu mút thanh bên dưới của cản bên phải của xe ô tô có bám dính chất màu vàng kích thước (0,5x0,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 49cm, đồng thời bị đẩy lệch so với vị trí ban đầu chiều hướng từ ngoài vào trong.
Kết quả khám nghiệm xe mô tô 43C1-137.01 thể hiện:
Gọng kính chiếu hậu bên trái đã bị rơi mất để lại cọng kính trên xe.
Đầu tay cầm bên trái có vết bám bụi đất bào mòn su kích thước (2x2)cm, tương ứng đầu tay thắng bên trái có vết bào mòn kim loại kích thước (1x1)cm.
Mặt ngoài ốp nhựa đoạn giữa thân xe ngay vị trí gác để chân bên trái có vết xước nhựa kích thước (20x4)cm.
Đoạn mặt ngoài sau đuôi xe có dấu vết bể vỡ nhựa đèn và đoạn vị trí biển số xe kích thước trên diện (40x26)cm.
Tại vị trí mặt ngoài ốp nhựa trên tay thắng bên phải của xe mô tô có vết trầy xước nhựa kích thước (1x1)cm.
Đoạn mặt ngoài của manh chắn gió bên phải và đoạn thân xe có có mảng trầy xước nhựa kích thước nằm trên diện (67x30)cm.
Theo Bản kết luận giám định số: 476/KL-KTHS ngày 19/5/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận: Chất vàng bám dính trên các mảnh cao su thu ở măt ngoài lốp thứ 2 (từ trước ra sau), bên phải của xe ô tô biển số 43H-005.69 kéo theo rơ moóc biển số 43R-029.15 (ký hiệu A1) gửi giám định là sơn, không cùng loại với mẫu màu vàng thu tại đuôi xe mô tô 43C-137.01 (ký hiệu M) làm mẫu so sánh. Chất màu vàng bám dính tại mặt ngoài phía trước đầu mút thanh bên dưới, cản bên phải của xe ô tô biển số 43H-005.69 kéo theo rơ moóc biển số 43R-029.15 (ký hiệu A2) gửi giám định là sơn, cùng loại với mẫu sơn màu vàng ghi thu tại đuôi xe mô tô biển số 43C1-137.01 (ký hiệu M) gửi làm mẫu so sánh.
Theo Bản kết luận giám định số: 30/KLCH-KTHS ngày 09/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an TP. Đà Nẵng, kết luận cơ chế hình thành trên xe ô tô 43H-005.69 kéo theo rơ moóc 43R-029.15 và xe mô tô 43C1-137.01: Vết 1 trên xe ô tô 43H-005.69 hình thành phù hợp trên ốp nhựa bọc đầu thanh kim loại nằm ngang và bách thanh kim loại hình chữ L của hệ thống khung kim loại bảo vệ gầm bên phải xe ô tô này va chạm với ốp đèn báo hãm và viền ốp nhựa bên trái đuôi xe mô tô biển số 43C1-137.01, đồng thời tạo nên vết 1 trên xe mô tô biển số 43C-137.01. Vết 2 trên xe ô tô biển số 43H-005.69 hình thành phù hợp do rìa mặt lăn và má lốp bánh xe thứ hai bên phải (tính từ trước ra sau) của xe ô tô này va chạm và chèn ép với các bộ phận vùng đuôi xe mô tô biển số 43C1-137.01, đồng thời tạo nên vết 2 tương ứng trên xe mô tô biển số 43C1-137.01. Tại thời điểm va chạm tạo nên vết 1, xe mô tô biển số 43C1-137.01 đang di chuyển cùng chiều bên phải ngang với vị trí cabin đầu xe ô tô biển số 43H-005.69. Tại thời điểm va chạm tạo vết 2, xe mô tô biển số 43C1-137.01 đang trong tình trạng ngả nghiêng sang trái xuống đường, đuôi xe hướng vào bánh thứ hai bên phải (tính từ trước về sau) của xe ô tô biển số 43H-005.69.
Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 11 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng truy tố Nguyễn Phúc V về tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Phúc V trình bày nội dung sự việc và thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố là đúng.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc V phạm tội: "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc V từ 15 đến 18 tháng tù giam.
Về trách nhiệm dân sự: Bị đơn dân sự là Công ty TNHH Vận tải và thương mại A và bị cáo Nguyễn Phúc V đã bồi thường cho gia đình nạn nhân tổng cộng 125.000.000 đồng (trong đó, Công ty A: 120.000.000 đồng, bị cáo V: 5.000.000 đồng) tiền chi phí mai táng, tổn thất tinh thần. Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ số tiền trên, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không đề cập.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với xe ô tô biển kiểm soát 43H-005.69 kéo theo rơ moóc 43R-029.15; Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số 3805772 đối với ô tô 43H-005.69; Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số 3805773 đối với xe rơ moóc 43R-029.15; Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô biển kiểm soát 43H-005.69 và xe mô tô biển kiểm soát 43C1-137.01: Sau khi khám nghiệm dấu vết phục vụ cho việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu theo quy định nên không đề cập.
- Đối với Giấy phép lái xe hạng E, FC số 640155057278, do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 15/7/2019 mang tên Nguyễn Phúc V hiện đang tạm giữ theo hồ sơ vụ án nên đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.
- Bị cáo Nguyễn Phúc V không có ý kiến tranh luận gì.
- Đại diện bị hại là ông Nguyễn Tuấn Hoài N1 không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát, đại diện bị hại xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt hết mức có thể cho bị cáo để bị cáo có điều kiện lao động lo cho con nhỏ.
- Ông Thái Hoàng L đại diện bị đơn dân sự không có ý kiến tranh luận gì chỉ mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo lo cho con nhỏ.
- Bị cáo Nguyễn Phúc V nói lời sau cùng: Thưa Hội đồng xét xử, bị cáo khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đã bất cẩn gây tai nạn, bị cáo rất ăn năn về hành vi của mình đã gây ra, bị cáo không biết nói gì hơn chỉ mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện là hợp pháp.
Về tội danh đối với bị cáo: Qua xem xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; đối chiếu với biên bản khám nghiệm hiện trường; bản ảnh hiện trường vụ tai nạn; biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông; bản ảnh khám phương tiện; kết luận giám định; biên bản khám nghiệm tử thi hoặc một phần tử thi; bản kết luận giám định pháp y về tử thi cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 25/3/2022, Nguyễn Phúc V điều khiển xe ô tô biển số 43H-005.69 kéo theo rơ moóc biển số 43R-029.15 lưu thông trên đường Trường Sơn theo hướng QN - ĐN, khi đi đến Km22+75 thuộc thôn Đ, xã N, huyện V, TP. Đ, V điều khiển xe ô tô lấn vào làn đường dành cho xe mô tô và xe đạp nên xe ô tô 43H-005.69 đã va chạm với đuôi xe mô tô 43C1-137.01 do bà Nguyễn Thị N đang điều khiển chạy cùng chiều, bên phải gây ra tai nạn. Hậu quả của vụ tai nạn làm bà Nguyễn Thị N bị thương nặng và chết sau đó tại Bệnh viện.
Theo Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 38/TgT ngày 21/4/2022 của Trung tâm Pháp y - Sở Y tế TP. Đà Nẵng, kết luận: Nguyên nhân tử vong của bà Nguyễn Thị N là do bị đa chấn thương, ngừng hô hấp, ngừng tuần hoàn, tử vong. Hành vi của bị cáo Nguyễn Phúc V đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng số 65/CT-VKS ngày 11 tháng 8 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Phúc V là người trưởng thành, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, khi tham gia giao thông bị cáo đã không tuân thủ các quy định về điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 23 Điều 8 và khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, dẫn đến tông vào đuôi xe mô tô 43C1-137.01 do bà Nguyễn Thị N đang điều khiển chạy cùng chiều gây tai nạn, hậu quả là bà N được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện và tử vong; hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ cũng như sự an toàn về tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác; bị cáo tham gia giao thông nhưng vi phạm quy định của luật giao thông đường bộ, không đi đúng làn đường, phần đường quy định, không chú ý quan sát, lỗi gây tai nạn dẫn đến hậu quả bà Năm chết là do bị cáo.
Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 28/9/2021, bị cáo V bị Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt số tiền 35.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự theo Bản án số 59/2021/HS-ST.
Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo điều khiển xe ô tô tham gia giao thông là nguồn nguy hiểm cao độ, bị cáo phải ý thức trong việc chấp hành pháp luật về giao thông đường bộ nhưng bị cáo không chú ý quan sát nên gây tai nạn làm bà Nguyễn Thị N chết, bị cáo đã từng bị xét xử về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích nay bị cáo lại phạm tội. Do đó phải xử lý nghiêm, mức hình phạt phải tương xứng với hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Phúc V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn và có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo cùng với bị đơn dân sự đã bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại; đại diện người bị hại xin miễn hình phạt, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có bố ruột là ông Nguyễn Phúc H tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế; bị cáo là lao động chính trong gia đình, nuôi hai con còn nhỏ. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; việc phạm tội là do lỗi vô ý, cẩu thả. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 54 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhấp của khung hình phạt cũng có tác dụng răn đe, giáo dục, đồng thời thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Nhà nước đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại đã nhận số tiền mà bị cáo và bị đơn dân sự đã bồi thường 125.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Xử lý vật chứng:
- Đối với xe ô tô biển kiểm soát 43H-005.69 kéo theo rơ moóc 43R-029.15; Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số 3805772 đối với ô tô 43H-005.69; Giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường số 3805773 đối với xe rơ moóc 43R-029.15; Giấy chứng nhận bảo hiểm tự nguyện xe ô tô biển kiểm soát 43H-005.69 và xe mô tô biển kiểm soát 43C1-137.01, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập.
- Đối với Giấy phép lái xe hạng E, FC số 640155057278, do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 15/7/2019 mang tên Nguyễn Phúc V hiện đang tạm giữ theo hồ sơ vụ án nên căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo.
Xét đề nghị của vị đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về mức hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị từ 15 đến 18 tháng tù đối với bị cáo là quá nghiêm khắc, Hội đồng xét xử thống nhất với vị đại diện Viện kiểm sát là cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian. Như đã phân tích ở mục [8], Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Phúc V phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phúc V phạm tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phúc V 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 của Bộ luật hình sự;
Tuyên xử: Trả lại cho bị cáo Nguyễn Phúc V 01 Giấy phép lái xe hạng E, FC số 640155057278, do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 15/7/2019 mang tên Nguyễn Phúc V hiện đang tạm giữ theo hồ sơ vụ án.
3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Buộc bị cáo Nguyễn Phúc V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo, đại diện bị hại và đại diện bị đơn dân sự có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Những người tham gia tố tung; - VKSND huyện V; - VKSND TP. Đ; - Tòa án nhân dân TP. Đ; - Sở tư pháp TP. Đ; - Chi cục THADS huyện V; - Công an huyện V - Cơ quan điều tra CA huyện V; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Đức Thiện |