vanban.org

Bản án 59/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Tuyên án 21/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Mai Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Mai Văn V 18(mươi tám tháng) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06-7-2022. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Mai Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HẢI HẬU
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59 /2022/HS-ST
Ngày: 21-9-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU - TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Việt Hùng;

Ông Mai Xuân Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Xuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Vũ Minh Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2022/TLST- HS ngày 23 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2022/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Mai Văn V, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Xóm 6, xã H, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn N, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị H, sinh năm 1962; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 06-7-2022, đến ngày 12-7-2022 thì chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hải Hậu“có mặt”.

- Người chứng kiến:

+ Ông Trần Hữu Phòng, (vắng mặt);

+ Ông Bùi Văn Định, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 06-7-2022, Mai Văn V đi xe đạp từ nhà ở xóm 6, xã H, huyện Hải Hậu đến đoạn đường tỉnh lộ 481 thuộc x Xuân Hòa, huyện Xuân Trường gặp và mua c a một người đàn ông khoảng 50 tu i, không biết tên, địa chỉ 01 gói Heroine với giá 100.000đ. Sau đó, V nh cầm gói ma túy vừa mua được cho vào túi quần bên phải rồi đạp xe về nhà. Đến 14 giờ 50 phút cùng ngày, V đi đến khu vực ngh a trang thuộc xóm 6, x H thì bị t công tác c a Công an huyện Hải Hậu phối hợp với Công an x H phát hiện bắt quả tang. T công tác đ thu giữ trên người V 01 gói giấy loại giấy thếp màu trắng, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong ký hiệu M),V nh khai nhận đó là Heroine vừa mua để sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, t công tác còn thu giữ c a V nh 01 xe đạp mini màu xanh.

Tại bản kết luận giám định số 1005/KL-KTHS ngày 08-7-2022 c a Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 01 gói giấy loại giấy thếp màu trắng trong phong bì thư được niêm phong ký hiệu M gửi giám địnhlà ma túy. Loại ma túy: Heroine. Khối lượng mẫu M: 0,208 gam.

Bản cáo trạng số 54/CT-VKSHH ngày 22-8-2022c a Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố bị cáo Mai Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo thành khẩn khai nhận đ thực hiện hành vi như nội dung vụ án đ nêu ở trên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Mai Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Mai Văn V từ 18 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06-7-2022; không áp dụng hình phạt b sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng c a vụ án là tịch thu chiếc xe mini bị cáo dùng để đi mua ma túy; tịch thu tiêu h y số ma túy đ thu giữ trong quá trình điều tra theo quy định pháp luật.

Trong phần tranh luận: Kiểm sát viên, bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi vi phạm c a mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đ được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, th tục quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận c a bị cáo Mai Văn V tại phiên toà được chứng minh bằng biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai c a bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, kết luận giám định c a Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, lời khai c a người chứng kiến, cùng các tài liệu khác đ được lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đ cơ sở kết luận:Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 06-7-2022, tại khu vực xóm 6, xã H, huyện Hải Hậu, t công tác c a Công an huyện Hải Hậuphối hợp với Công an x H phát hiện bắt quả tang Mai Văn V nh đang có hành vi cất giấu trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,208 gam để sử dụng. Hành vi nêu trên c a Mai Văn V đ đ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đ truy tố là có căn cứ.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm c a hành vi phạm tội mà bị cáo đ thực hiện thì thấy: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý mà bị cáo đ thực hiện là nguy hiểm cho x hội. Hành vi đó không những xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý c a Nhà nước về chất ma tuý mà còn gây mất trật tự trị an x hội. Ma tuý đ và đang gây tác hại xấu cho sức khoẻ c a người sử dụng; làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, làm khánh kiệt về kinh tế, phá hoại hạnh phúc gia đình và chính ma tuý là nguyên nhân làm gia tăng nhiều loại tội phạm, làm lan truyền nhiều loại bệnh dịch nguy hiểm. Do đó, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi x hội một thời gian nhất định nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh, phòng ngừa chung.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải về hành vi vi phạm; mục đích tàng trữ để sử dụng cho bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị c a vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là phù hợp.

Về hình phạt b sung: Bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập n định, không có tài sản riêng; bản thân bị nghiện ma túy. Do vậy, không áp dụng hình phạt b sung là hình phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị c a Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.

Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo V vào chiều ngày 06-7-2022 tại khu vực đoạn đường tỉnh lộ 481 thuộc x Xuân Hòa, huyện Xuân Trường, do V không biết rõ họ tên, địa chỉ nên không có căn cứ xác minh, xử lý.

Xử lý vật chứng:

- Đối với 01 xe đạp mini màu xanh lá, có giỏ màu đen là tài sản hợp pháp c a Mai Văn V, bị cáo đ sử dụng làm phương tiện đi lại, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo là phù hợp.

- Số Heroinetrong phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định ký hiệu M, xác định là Heroine. Xét đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu h y mẫu vật hoàn trả sau giám định.

Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định c a pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 c a Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Mai Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt bị cáo Mai Văn V 18(mươi tám tháng) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06-7-2022.

2. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Trả lại cho bị cáo Mai Văn V 01 xe đạp mini màu xanh lá, có giỏ màu đen.

- Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định ký hiệu Mtheo Kết luận giám định số 1005/KL-KTHS ngày 08-7-2022 c a Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định.

(Các vật chứng nêu trên được mô tả như Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu lập ngày 25-8-2022).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a c a Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Mai Văn V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ