vanban.org

Bản án 59/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 10/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 7 năm 2022. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2022/HS-ST
Ngày 10 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DƯƠNG MINH CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Tòng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đoàn Tấn Tiên;

2. Ông Huỳnh Trung Tài.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngọc Bích Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa:

Ông Hồ Chí Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2022 tại Trường Trung học cơ sở C thuộc ấp B, xã C, Huyện D, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Nhật A, sinh năm 2003, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T1, Huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ văn hóa: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1971 và bà Mai Thị L, sinh năm 1974 (đã chết); tiền án: Không có; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 107/QĐ-XPHC ngày 14-11-2021 của Công an xã Truông Mít, Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, xử phạt Nguyễn Nhật A số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa chấp hành nộp phạt; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16-7-2022 cho đến nay; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Nhật A là người nghiện ma túy. Vào khoảng 10 giờ 25 phút ngày 16-7-2022, bị cáo Nhật A điều khiển xe mô tô biển số 70H5-0244 từ nhà đến khu vực chợ C, thuộc Ấp T, xã T1, Huyện D, tỉnh Tây Ninh gặp người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) mua 01 bịch ma túy được để trong 01 gói thuốc lá hiệu Jet với số tiền 300.000 đồng. Sau đó, Nhật A cầm trên tay trái và điều khiển xe mô tô đi về đến khu vực Ấp T, xã T1, Huyện D, tỉnh Tây Ninh để sử dụng thì bị Công an xã Truông Mít và Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu bắt quả tang cùng vật chứng có liên quan.

Kết luận giám định số 858 ngày 19-7-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 bịch nylon được hàn kín ba đầu, một đầu khóa bóp, có viền đỏ (ký hiệu M), gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,2944 (không phẩy hai chín bốn bốn) gam; khối lượng hoàn lại sau giám định là 0,1854 (không phẩy một tám năm bốn) gam.

Tại Cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Nhật A đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

+ 01 (một) bì thư đã niêm phong ghi vụ số 858/KL-KTHS có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M, trợ lý giám định Tạ Đình P và dấu mộc tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh; bên trong có chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1854 (không phẩy một tám năm bốn) gam.

+ 01 (một) xe mô tô biển số 70H5-0244, số khung: VTTDCHOA4TT132186, số máy RNRHC152FMH116532.

Bị cáo Nguyễn Nhật A không có tài sản nên không tiến hành kê biên.

Cáo trạng số 50/CT-VKSDMC ngày 25-10-2022 của Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Nhật A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật A với mức án từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng tù.

- Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

- Áp dụng Điều 47, Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, để bị cáo có cơ hội sửa sai.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Huyện Dương Minh Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của bị cáo thể hiện: Vào lúc 10 giờ 40 phút ngày 16-7-2022 tại khu vực Ấp T, xã T1, Huyện D, tỉnh Tây Ninh bị cáo Nguyễn Nhật A có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có tên gọi là Methamphetamine, khối lượng 0,2944 gam. Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; nên đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Nhật A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, thấy rằng: Bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng; bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2017, có nhân thân xấu, cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng; gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử nghiêm bị cáo để răn đe và đảm bảo phòng ngừa chung cho xã hội khi tình hình tội phạm ma túy đang diễn biến phức tạp; cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo tự cải tạo thành người công dân tốt.

Bị cáo không có tài sản nên miễn hình phạt bổ sung.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Nhật A, Công an Huyện Dương Minh Châu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.000.000 đồng.

Đối với người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) là người bán ma túy theo lời khai của Nhật A, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Huyện Dương Minh Châu chưa làm việc được, khi nào làm việc được, s xử lý sau.

Về biện pháp tư pháp:

Chất ma túy là vật chứng của vụ án phải tuyên tịch thu tiêu hủy.

Đối với xe mô tô thu giữ của bị cáo, thấy rằng: Kết quả xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Công an Huyện Dương Minh Châu xác định: Xe mô tô biển số 70H5-0244 có số khung: XS11022003380, số máy: LC152FM01766821 do ông Trần Văn R, sinh năm 1967; địa chỉ cư trú: Tổ A, ấp P, xã PT, huyện G, tỉnh Tây Ninh đăng ký; ông Trần Văn R xác nhận có đăng ký và sử dụng xe mô tô biển số 70H5-0244; cách đây khoảng 10 năm đã bán xe mô tô trên cho người khác không biết họ, tên (bút lục số 88, số 89); Kết luận giám định số 1254 ngày 06-10-2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh, kết luận: số khung: VTTDCHOA4TT132186, số máy RNRHC152FMH116532 của xe mô tô biển số 70H5-0244 không bị đục sửa. Như vậy, xe mô tô biển số 70H5-0244 không đảm bảo giá trị pháp lý để lưu hành; do đó cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Nhật A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 16 tháng 7 năm 2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

2.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư đã niêm phong ghi vụ số 858/KL-KTHS có chữ ký của giám định viên Nguyễn Thị Tuyết M, trợ lý giám định Tạ Đình P và dấu mộc tròn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh; bên trong có chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng hoàn lại sau giám định 0,1854 (không phẩy một tám năm bốn) gam.

2.2 Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 70H5-0244, số khung: VTTDCHOA4TT132186, số máy RNRHC152FMH116532.

(Vật chứng, tài sản hiện Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18-10-2022).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Nhật A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

5. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

Cỡ chữ