vanban.org

Bản án 59/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 16/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Hữu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trinh Huu V - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Hữu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2022/HS-ST
Ngày: 16- 12- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Huy Bắc

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Hải

2. Bà Dương Thị Thu Hằng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Triệu Cẩm Chi- Thư ký Toà án nhân dân

huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên

tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thái Bình- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2022, tại Trung tâm Văn hóa xã Hợp Tiến, huyện

Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2022/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Hữu V, tên gọi khác: Không; sinh ngày 17/9/1973; Nơi

sinh: Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ A, thị trấn SC, huyện ĐH, tỉnh TN; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trịnh Hữu C, sinh năm 1940, con bà: Bùi Thị Th, sinh năm 1944; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; Có vợ là: Nguyễn Thị Thùy D, sinh năm 1986, có 03 con chung, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chị Nguyễn Thị Thùy

D, sinh năm 1986 – Có mặt.

Nơi cư trú: Tổ A, thị trấn SC, huyện ĐH, tỉnh TN.

+ Người chứng kiến:

1. Ông Hồ Đức S, sinh năm 1961 – Vắng mặt

Nơi cư trú: Tổ A, thị trấn SC, huyện ĐH, tỉnh TN.

2. Ông Phạm Văn G, sinh năm 1965 – Vắng mặt

Nơi cư trú: Tổ A, thị trấn SC, huyện ĐH, tỉnh TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 12/8/2022 tổ công tác Công an huyện Đồng

Hỷ, tỉnh Thái nguyên phối hợp cùng Công an thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đang tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn tổ A, thị trấn SC, huyện ĐH, tỉnh TN thì phát hiện Trịnh Hữu V có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra đối với V. V tự giác lấy từ trong túi quần phía trước bên trái mình đang mặc ra 01 gói nhỏ bằng giấy màu trắng có dòng kẻ, bên trong có chứa chất bột màu trắng giao nộp, V khai nhận đó là Heroine của V. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ 01 chiếc xe mô tô BKS: 20B2- 35242, nhãn hiệu HONDA WAVE. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với V và thu giữ, niêm phong vật chứng theo quy định.

Hồi 13 giờ 15 phút cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đồng Hỷ

tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Hữu V, tại Tổ A, thị trấn SC, huyện ĐH, tỉnh TN, kết quả: Không phát hiện thu giữ gì.

Tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Trịnh

Hữu V khi bắt quả tang có khối lượng là 0,139 gam và lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định- ký hiệu A1.

Tại bản Kết luận giám định số 1266/KL-KTHS ngày 20/8/2022 của Phòng

kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Thái Nguyên, kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine; có khối lượng: 0,139 gam.

Quá trình điều tra đã làm rõ, Trịnh Hữu V là người nghiện chất ma túy từ

tháng 02/2000 đến nay. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 12/8/2022, V một mình điều khiển xe mô tô BKS: 20B2- 35242, nhãn hiệu HONDA WAVE đi từ nhà ở tổ a, thị trấn SC, huyện ĐH, tỉnh TN đến khu vực ngã ba Hợp Tác xã chè Thịnh An thuộc tổ A, thị trấn SC, huyện ĐH, tỉnh TN với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây, V gặp 01 người phụ nữ khoảng 35 tuổi (không biết tên, địa chỉ) và hỏi mua của người này 01 gói ma túy với giá 100.000 đồng rồi đi về. Khi đến đường dân sinh thuộc tổ A, t thị trấn SC, huyện ĐH, tỉnh TN thì bị tổ công tác Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên yêu cầu kiểm tra và thu giữ vật chứng như nêu trên.

Vật chứng của vụ án gồm: 02 phong bì niêm phong ký hiệu A1 và LK; 01

chiếc xe mô tô BKS: 20B2- 352.42, nhãn hiệu HONDA WAVE. Hiện số vật chứng trên đang được lưu giữ, bảo quản chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 57CT-VKSĐH, ngày 08/11/2022 Viện kiểm sát nhân

dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Trịnh Hữu V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ tham gia phiên tòa, sau

khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trịnh Hữu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ

luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106

Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu: A1

và LK.

- Tạm giữ 01 chiếc xe mô tô BKS: 20B2- 352.42, nhãn hiệu HONDA

WAVE thu giữ của bị cáo để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết

số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

đến vụ án không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tội danh: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 12/8/2022, tại khu vực tổ 2,

thị trấn Sông Cầu, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Trịnh Hữu V đang có hành vi tàng trữ 0,139 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ số Heroine trên và một số vật chứng có liên quan.

Về nguồn gốc số Heroine trên là do V mua của một người phụ nữ không

quen biết vào khoảng 08 giờ 00 cùng ngày tại khu vực ngã ba Hợp Tác xã chè TT thuộc tổ A, thị trấn SC, huyện ĐH, tỉnh TN với giá 100.000 đồng mục đích để sử dụng cho bản thân.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Hữu V đã khai nhận toàn

bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người chứng kiến, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Hội đồng xét xử thấy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung Điều 249 Bộ luật hình sự quy định như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích

mua bán, vận chuyển .... thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”.

a)....;

c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến

500.000.000 đồng,....”.

. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng là đối tượng nghiện chất ma túy.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, bị cáo có bố đẻ được nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Khi lượng hình cần áp dụng hình phạt tù, buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung; tuy nhiên, cũng sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy mục đích để sử dụng

cho bản thân, không có mục đích bán kiếm lời, mặt khác bị cáo không có công ăn việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và hình phạt

đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

. Vật chứng của vụ án:

- Đối với 02 phong bì niêm phong kí hiệu A1, LK (bên trong có chứa vỏ bì

và số chất ma túy còn lại sau giám định) là vật chứng của vụ án không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc xe mô tô BKS: 20B2- 352.42, nhãn hiệu HONDA

WAVE thu giữ của bị cáo khi bắt quả tang. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đã xác định được chiếc xe mô tô trên là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, ngày 12/8/2022 bị cáo sử dụng chiếc xe trên đi mua ma túy chị Nguyễn Thị Thùy D (vợ bị cáo) hoàn toàn không biết và không có liên quan nên cần trả lại cho vợ chồng bị cáo; tuy nhiên bị cáo còn phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước nên cần tiếp tục tạm giữ chiếc xe mô tô trên để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

. Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án

theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản

án theo quy định của pháp luật.

. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên,

Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử. Điều tra viên, Kiểm sát

viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

. Ngoài ra, trong vụ án này, bị cáo khai đã mua ma túy của một người phụ

nữ không biết tên, địa chỉ tại khu vực ngã ba Hợp Tác xã chè TT thuộc tổ A, thị trấn SC, huyện ĐH, tỉnh TN; do không xác định được tên tuổi, lai lịch, địa chỉ của người phụ nữ trên nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không có đủ cơ sở điều tra, làm rõ để xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Hữu V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy”.

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,

khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Trịnh Hữu V 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2022. Quyết định tạm giam bị cáo Trịnh Hữu V 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều

106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn kí hiệu:

A1, LK.

Tạm giữ 01 (một) chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại: WAVE,

màu sơn: Xanh đen bạc; BKS: 20B2- 352.42; số khung: RLHJA3914LY197520; số máy: JA39E- 1535397; dung tích: 109,1cm3, xe đã cũ, để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày

15/11/2022 giữa Công an huyện Đồng Hỷ với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đồng Hỷ).

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị

quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Trịnh Hữu V phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ

liên quan đến vụ án, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án./.

Cỡ chữ