- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Công M tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS nă…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Công M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ M’GAR | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐĂK LĂK Bản án số: 59 /2022/HS-ST Ngày 15/11/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ M’GAR – TỈNH ĐĂK LĂK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Lợi Niê
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Hoàng Duy Thanh – Cán bộ hưu trí
2/ Ông Y Tha Mlô – Cán bộ hưu trí
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Vũ Đức Đuống – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk
- Đại diện VKS huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu - Chức vụ: Kiểm sát viên
Ngày 15/11/2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 58/2022/HSST ngày 25 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Công M; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1999 tại tỉnh ĐL;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: Thôn 1, xã CS, huyện CM, tỉnh ĐL;
Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Yên Th, sinh năm: 1970 và con bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm: 1971. Hiện ông bà đang sinh sống tại thôn 1, xã CS, huyện CM, tỉnh ĐL; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, Tiền sự: Không;
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh ĐL – có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời liên quan: Bà Nguyễn Thị Nh – sinh năm 1971 (Có mặt)
Địa chỉ: thôn 1, xã CS, huyện CM, tỉnh ĐL
* Ngƣời chứng kiến:
1/ Ông Nguyễn Chí Th – sinh năm 1978
(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn 2, xã CS, huyện CM, tỉnh ĐL
2/ Ông Nguyễn Hồng B – sinh năm 1978
(Vắng mặt)
Địa chỉ: thôn 2, xã CS, huyện CM, tỉnh Đăk Lă
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 16/9/2022, Trần Công M, sinh năm: 1999, trú tại thôn 2, xã CS, huyện CM đi nhờ xe của người dân để xuống đường tỉnh lộ 8 đón xe buýt lên thị trấn QP, mua ma túy đá về sử dụng. Khi đến thị trấn QP thì M đi bộ đến đoạn đường Huỳnh Thúc Kh, thị trấn QP, huyện CM thì gặp một người tên thường gọi là Bền (không rõ nhân thân lai lịch) rồi nhờ Bền đi mua 700.000 đồng tiền ma túy đá. M đưa tiền cho Bền xong thì Bền không đi mua ma túy mà chỉ dẫn cho M đi lại vị trí cột biển tên đường gần đó để lấy ma túy đá. M đi theo chỉ dẫn của Bền thì thấy tại đó có 01 gói ny lon kích thước (2,5 x4) cm, bên trong gói ny lon này có chứa ma túy đá. M lấy gói ma túy đá bỏ vào trong túi quần Jean phía trước bên phải quần M đang mặc rồi đón xe buýt đi về. Đến khoảng 16 giờ ngày 16/9/2022, khi M đang đi bộ lên khu vực cổng chào thôn 2, xã CS, huyện CM thì bị lực lượng Công an huyện CM phát hiện bắt quả tang. Tại thời điểm bắt quả tang Công an huyện CM đã phát hiện trong túi quần phía trước bên phải quần Jean mà M đang mặc có 01 gói ny lon kích thước (2,5 x4)cm, bên trong gói nylon này có chứa ma túy đá. Sau đó lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với M về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tạm giữ niêm phong tang vật theo đúng quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 930/KL - KTHS ngày 23/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh ĐL kết luận: Chất rắn dạng tinh thể bên trong 01 (một) gói nylon kích thước (2,5x4)cm, được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,6726 gam, loại Methamphetamine.
Tại bản cáo trạng số: 58/KSĐT-HS ngày 25/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, truy tố bị cáo Trần Công M về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Trần Công M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu ở trên.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Trần Công M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Công M mức án từ 15 đến 18 tháng
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 16/9/2022.
Biện pháp tƣ pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Cần tịch thu 0,6316gam mẫu vật còn lại sau giám định là ma túy, loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.
Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận bào chữa gì mà chỉ mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập hợp pháp được lưu trong hồ sơ vụ án và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 16/9/2022, tại thôn 2, xã CS, huyện CM, tỉnh ĐL, Trần Công M có hành vi tàng trữ trái phép 0,6726 gam ma túy, loại: Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện và bắt quả tang cùng tang vật.
Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện CM truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự thì hành vi của Trần Công M đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
….. c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được rằng Ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe con người mà còn khiến nhiều gia đình lâm vào cảnh khánh kiệt, bần cùng, ma túy là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội gia tăng và gây mất trật tự an toàn xã hội, bị cáo từng xử lý hành chính về hành vi sử dụng ma túy, bị cáo nhận thức việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất gây nghiện nhưng, do ý thức coi thường Pháp luật nên bị cáo vẫn mua ma túy của một người tên Bền với giá 700.000 đồng để sử dụng. Qua giám định, số ma túy bị thu giữ được trên người bị cáo có khối lượng là 0,6726gam, loại Methamphetamine. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt HĐXX thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử cần dành cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đồng thời cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của bị cáo, ngày 23/9/2022 Công an huyện CM ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt Cảnh cáo đối với Trần Công M theo quy định tại khoản 1, Điều 23 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, xét thấy hình thức xử phạt trên là phù hợp với quy định pháp luật.
Đối với đối tượng tên Bền là người đã ma túy cho Trần Công M, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CM đã điều tra xác M nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này. Cơ quan điều tra tiếp tục xác M, làm rõ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ được 01 (một) gói ny lon có kích thước (2,5 x 4)cm, bên trong có chứa ma túy đá có khối lượng 0,6727gam, khối lượng còn lại sau khi giám định là 0,6316gam là ma túy loại Methamphetamine. Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Công M phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Trần Công M 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 16/9/2022.
Các biện pháp tư pháp:
* Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ khối lượng 0,6316gam ma túy, loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.
(Vật chứng trên có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/10/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM, tỉnh ĐL).
* Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Công M phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
* Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi gửi:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Vụ giám đốc kiểm tra 1
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- TAND tỉnh ĐL;
- VKSND tỉnh ĐL;
- Sở Tư pháp tỉnh ĐL;
- CA huyện, VKSND huyện CM;
- THA Dân sự, T H A hình sự;
- Bị cáo, các đương sự;
- Lưu hồ sơ, lưu VP.
Y Lợi Niê
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
HỘI THẨM NHÂN DÂN
| Nơi gửi: - Vụ giám đốc kiểm tra 1 - TAND tỉnh ĐL; - VKSND tỉnh ĐL; - Sở Tư pháp tỉnh ĐL; - CA huyện, VKSND huyện CM; - THA Dân sự, T H A hình sự; - Bị cáo, các đương sự; - Lưu hồ sơ, lưu VP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Y Lợi Niê |