vanban.org

Bản án 59/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh Tuyên án 22/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: tiền Việt Nam: 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng đã được niêm phong vào trong một bì thư có chữ ký của điều tra viên Đặng Thanh Ngân và dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Châu … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2022/HS-ST
Ngày 22 - 7 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Kim Linh.

Ông Phan Văn Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hiệp là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Lai - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2022/QÐXXST-HS ngày 11 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân P, sinh năm 1996, tại tỉnh Kiên Giang; nơi thường trú: ấp H, xã T, huyện T1, tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú hiện nay: ấp N, xã L, huyện C, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hoá (học vấn): 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H1 và bà Tiết Thị M; chưa có vợ, con; tiền án: không có; tiền sự: ngày 30/12/2021, bị Công an xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 12/QĐ-XPHC về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy với số tiền 750.000 đồng, đã chấp hành việc nộp phạt ngày 31/12/2021, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; bị tạm giữ từ ngày 17/3/2022, chuyển tạm giam từ ngày 23/3/2022 đến nay. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 22 giờ ngày 17/3/2022, tại ấp Thành Bắc, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang đối với Nguyễn Xuân P đang bán trái phép 01 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa chất ma túy cho Trương Văn Đ, sinh năm 2003, ngụ ấp Thành Đông, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh với số tiền 400.000 đồng. Vật chứng thu giữ: Thu giữ trong lòng bàn tay trái của Trương Văn Đ 01 đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1); thu trong lòng bàn tay trái của Nguyễn Xuân P 01 bịch nylon màu trắng có đầu kéo xếp viền đỏ, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M3); tiền Việt Nam 400.000 đồng cùng một số đồ vật có liên quan. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Xuân P không thu giữ đồ vật gì. Quá trình điều tra chứng minh được: Nguyễn Xuân P là người nghiện ma túy, nguồn gốc ma túy có được là mua của một người phụ nữ (không rõ họ tên và địa chỉ) tại khu vực bến xe Tây Ninh thuộc phường 2, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh với số tiền 1.000.000 đồng rồi đem về cất giấu sử dụng và bán lại cho người khác, cụ thể như sau:

- Lần 1: Khoảng đầu tháng 3/2022, bán cho Võ Văn N1, sinh năm 1990, ngụ ấp Thành Bắc, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh 01 đoạn ống hút chứa ma túy với số tiền 200.000 đồng, giao nhận trước nhà của Na.

- Lần 2: Khoảng 16 giờ ngày 08/3/2022, bán cho Huỳnh Văn V, sinh năm 1972, ngụ ấp Thành Bắc, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh 01 đoạn ống hút chứa ma túy với số tiền 100.000 đồng, giao nhận tại khu vực vườn cao su thuộc ấp Thành Bắc, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Lần 3: Khoảng 17 giờ ngày 08/3/2022, bán cho Trương Văn Đ 01 đoạn ống hút chứa ma túy với số tiền 300.000 đồng nhưng Đ còn nợ số tiền 100.000 đồng, giao nhận tại khu vực vườn cao su thuộc ấp Thành Bắc, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Lần 4: Vào ngày 10/3/2022, bán cho Na 01 đoạn ống hút chứa ma túy với số tiền 500.000 đồng, giao nhận tại khu vực vườn cao su thuộc ấp Thành Bắc, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Lần 5: Khoảng 15 giờ ngày 17/3/2022, bán cho Huỳnh Văn V 01 đoạn ống hút chứa ma túy với số tiền 100.000 đồng, giao tại khu vực vườn cao su thuộc ấp Thành Bắc, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.

- Lần 6: Khoảng 21 giờ ngày 17/3/2022, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Trương Văn Đ điện thoại cho Nguyễn Xuân P hỏi mua ma túy với số tiền 400.000 đồng thì P đồng ý và hẹn Đ đến khu vực vườn cao su thuộc ấp Thành Bắc, xã Thành Long, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh để giao ma tuý. Sau đó, Đ đi bộ một mình từ nhà đến điểm hẹn. Tại đây, khi P vừa giao ma túy và nhận tiền từ Đ thì bị bắt quả tang. Nguyễn Xuân P xác định ma túy bị thu giữ trên người để bán trái phép chất ma túy.

Tại bản Kết luận giám định số 395/KL-KTHS ngày 21/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh kết luận:

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín (ký hiệu M1) gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng 0,0266 gam.

- Mẫu tinh thể rắn màu trắng bên trong 01 (một) bịch nylon màu trắng có một đầu kéo xếp viền màu đỏ (ký hiệu M3) gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng 0,7400 gam.

Qua xác minh, bị cáo không có tài sản nên không kê biên.

Đối với Trương Văn Đ, Huỳnh Văn V và Võ Văn N1 có hành vi sử dụng trái phép ma túy, Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã ra Quyết định xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng.

Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Xuân P do không xác định được nhân thân, địa chỉ nên tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Cáo trạng số: 37/CT-VKSCT ngày 31 tháng 5 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Xuân P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân P từ 07 năm đến 08 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Bị cáo Nguyễn Xuân P chỉ thống nhất với một phần bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho Võ Văn N1. Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Xuân P: Xin xử giảm nhẹ cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về tội danh: [2.1] Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận bán trái phép chất ma túy cho Huỳnh Văn V hai lần, bán trái phép chất ma túy cho Trương Văn Đ hai lần, không thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy Võ Văn N1. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án chứng minh được: Bị cáo Nguyễn Xuân P là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, khoảng 22 giờ ngày 17/3/2022, bị cáo có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Trương Văn Đ thì bị bắt quả tang với khối lượng ma túy loại Methamphetamine bị thu giữ là 0,0266 gam. Bị cáo xác định khối lượng ma túy loại Methamphetamine bị thu giữ trên người là 0,7400 gam để bán trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài và ma túy để sử dụng bị cáo đã có hành vi mua ma túy của người khác về bán lại để kiếm lời. Khoảng 16 giờ ngày 08/3/2022, bị cáo bán ma túy cho Huỳnh Văn V với số tiền 100.000 đồng. Khoảng 17 giờ ngày 08/3/2022, bị cáo bán ma túy cho Trương Văn Đ với số tiền 300.000 đồng. Khoảng 15 giờ ngày 17/3/2022, bị cáo bán ma túy cho Huỳnh Văn V với số tiền 100.000 đồng. Khoảng 22 giờ ngày 17/3/2022, bị cáo bán ma túy cho Trương Văn Đ với số tiền 400.000 đồng thì bị bắt quả tang. Bị cáo không thừa nhận có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Võ Văn N1; Võ Văn N1 khai có mua ma túy từ bị cáo hai lần, lần một không có người chứng kiến, lần hai có Huỳnh Văn V chứng kiến nhưng V khai bị cáo và Võ Văn N1 gặp nhau trong hai phút, không biết trao đổi việc gì nên không có căn cứ chứng minh bị cáo có bán trái phép chất ma túy cho Võ Văn N1. Do đó, bị cáo bán trái phép chất ma túy bốn lần. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Xuân P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Vụ án mang tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy nên phải chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vì mục đích lợi nhuận bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân tốt, nhằm đạt được mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng xem xét đến nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân của bị cáo: Bị cáo có 01 tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã tự khai nhận lần phạm tội trước và thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. [3.3] Vì vậy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đề nghị là có căn cứ để xem xét. [4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền, căn cứ Điều 35 Bộ luật Hình sự, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. [5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- 01 (một) Bì thư được niêm phong ghi vụ số: 395/KL-KTHS (gói 2) có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc Thái, trợ lý Trịnh Thị Nhật Quyên và được đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh là chất ma tuý, thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ nên tịch thu tiêu huỷ.

- 01 (Một) Điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại 105, màu đen, số sê ri 1: 353200111778634, số sê ri 2: 353200116778639 (đã qua sử dụng): bị cáo dùng để liên lạc sử dụng bán ma tuý nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.

- Đối với tiền Việt Nam: 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng bị cáo có được do bán ma tuý: Đây là số tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước. [6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân P 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/3/2022.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước: tiền Việt Nam: 400.000 (bốn trăm nghìn) đồng đã được niêm phong vào trong một bì thư có chữ ký của điều tra viên Đặng Thanh Ngân và dấu tròn đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện Châu Thành; 01 (Một) Điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, loại 105, màu đen, số sê ri 1: 353200111778634, số sê ri 2: 353200116778639 (đã qua sử dụng).

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) Bì thư được niêm phong ghi vụ số: 395/KL-KTHS (gói 2) có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc Thái, trợ lý Trịnh Thị Nhật Quyên và được đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tây Ninh

(Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/6/2022).

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Xuân P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ