- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 59/2022/ HS - ST Ngày 14 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Như Long
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hằng Hải
Bà Trần Thị Huệ
Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Tươi - Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Bùi Đỗ Quyên – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2022/TLST - HS ngày 10/11/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2022/QĐXXST-HS ngày 02/12/2022 đối với bị cáo:
Lê Văn H ( Tên gọi khác: Không) - Sinh ngày: 20/01/1996 tại huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn T, xã Tr, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Lê Văn H1 - Sinh năm: 1968. Hiện trú tại Thôn T, xã Tr, huyện B, tỉnh Lào Cai và bà Trần Thị Y - Sinh năm: 1972 (Đã chết). Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu là đối tượng nghiện chất ma túy. Năm 2016 bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 144/QĐ-TA ngày 31/8/2016 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai với thời hạn là 12. Đên ngày 05/7/2017 chấp hành xong quyết định tái hòa nhập cộng đồng. Đến nay bị cáo đã được xóa tiền sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 12/9/2022, tạm giam từ ngày 15/9/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ công an huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên toà.
Người chứng kiến: Chị Phan Thị G; Nơi cư trú: Tổ dân phố P1, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai - Vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 12/9/2022, tại tổ dân phố P1, thị trấn P huyện B, tỉnh Lào Cai, tổ công tác thuộc đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - Ma túy Công an huyện B, tỉnh Lào Cai làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố P1, thị trấn P, huyện B phát hiện và bắt quả tang Lê Văn H - Sinh năm 1996, trú tại Thôn T, xã Tr, huyện B, tỉnh Lào Cai. Tại đây Lê Văn H tự giác lấy từ trong túi áo ngực đang mặc ra 01 gói nhỏ giấy bạc mầu trắng giao nộp cho tổ công tác. Tiến hành mở kiểm tra gói giấy bạc màu trắng mà Lê Văn H giao nộp bên trong có chứa chất bột khô, vón cục, màu trắng Lê Văn H khai là ma túy Hroine do Lê Văn H mua được của một người đàn ông không quen biết tại thị trấn Phố Lu, huyện B với giá là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) với mục đích đem về sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong và thu giữ vật chứng có liên quan theo quy định.
Tại kết luận giám định số 211/KL - GĐMT ngày 14/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 0,32 (không phẩy ba hai) gam chất bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Lê Văn H ngày 12/9/2022 tại tổ dân phố P1, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.Cơ quan giám định đã trích 0,07 gam để giám định, vật chứng còn lại của vụ án gồm: 0,25 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định cùng các mảnh giấy bạc màu trắng và bì thư niêm phong ban đầu được tái niêm phong trong một bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Hiện cơ quan điều tra đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện B để phục vụ công tác xét xử và thi hành án.
Cáo trạng số 56/CT - VKS ngày 10/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lê Văn H và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng đến 01 ( Một) năm 06 (Sáu) tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy 0,25 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định được tái niêm phong trong một bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Hiện đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai để tiêu hủy.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Lào Cai, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng với trình tự thủ tục tố tụng quy định của pháp luật. Vụ án không thuộc trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp khách quan với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:
Do bản thân là người nghiện chất ma túy nên khoảng 10 giờ ngày 12/9/2022, Lê Văn H là người có hộ khẩu thường trú tại Thôn T, xã Tr, huyện B, tỉnh Lào Cai từ nhà đi nhờ xe của một người không quen biết đến khu vực Bưu điện huyện B thì xuống xe rồi một mình đi bộ vào ngõ nhỏ cạnh ga P, Lê Văn H đi bộ được khoảng 100m thì gặp một người đán ông không quen biết (Không rõ tên tuổi địa chỉ) đứng ở ven đường. Lê Văn H đến gần người đàn ông này và lấy từ trong người ra 200.000đ đưa cho người đàn ông này và nói "Anh ơi cho em hai trăm". Người đàn ông này cầm tiền rồi đưa lại cho Lê Văn H 01 gói nhỏ bọc giấy bạc màu trắng, Lê Văn H biết đây là ma túy nên không mở ra kiểm tra mà cầm gói ma túy cất vào túi áo ngực đang mạc sau đó đi bộ đến khu vực bệnh viện đa khoa huyện B để tìm chỗ sử dụng, khi Lê Văn H đi đến cách cổng bệnh viện đa khoa huyện B khoảng 100 mét thị bị lực lượng công an yêu cầu kiểm tra. Lê Văn H đã tự giác giao nộp toàn bộ số ma túy vừa mua được và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.
Tại kết luận giám định số 211/KL - GĐMT ngày 14/9/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, kết luận: 0,32 (không phẩy ba hai) gam chất bột khô, vón cục, màu trắng thu giữ của Lê Văn H ngày 12/9/2022 tại tổ dân phố P1, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai gửi giám định là loại chất ma túy Heroine.
Quá trình điều tra Lê Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đã tàng trữ 0,32 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy Viện Kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai truy tố bị cáo Lê Văn H về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng số 56/CT - VKS ngày 10/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an ở địa phương. Xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật bảo vệ. Mặt khác bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy và đã từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng theo quyết định số 144/QĐ - TA ngày 31/8/2016, đến ngày 05/7/2017 bị cáo chấp hành xong quyết định tái hòa nhập cộng đồng và đã được xóa tiền sự theo quy định của pháp luật. Sau khi chấp hành xong quyết định xử lý hành chính, không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân, đến ngày 12/9/2022 bị cáo bị công an huyện B, tỉnh Lào Cai bắt và khởi tố về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do vậy đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm và lên một mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian thì mới đủ điều kiện để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Lê Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Lê Văn H có 01 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đó là " Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải". Do vậy khi lượng hình Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, thể hiện tính khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta.
Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, bản thân không có tài sản riêng. Tại phiên tòa Viện kiểm sát không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có căn cứ. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 0,25 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định và các mảnh giấy bạc, bì niêm phong ban đầu được tái niêm phong trong một bì thư do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai phát hành có ghi " Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Lê Văn H ngày 12/9/2022 tại tổ dân phố P1, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai". Hiện đang lưu giữ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai. Xét thấy đây là vật chứng Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu để tiêu hủy là có căn cứ phù hợp với các quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo Lê Văn H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1Điều 51của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 12/9/2022.
2. Về vật chứng: Căn cứ vào Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu: 0,25 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định và các mảnh giấy bạc, bì niêm phong ban đầu được tái niêm phong trong một bì thư do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai phát hành có ghi " Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu giữ trong quá trình bắt quả tang Lê Văn H ngày 12/9/2022 tại tổ dân phố P1, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai". Hiện đang lưu giữ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai để tiêu hủy.
3. Về án phí: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu phí, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Khoản 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKSND tỉnh Lào Cai; - Sở tư pháp tỉnh Lào Cai; - VKSND huyện B; - Công an huyện B; - Cơ quan THA HS công an tỉnh Lào Cai; - THA HS - DS (03); - Bị cáo; - Lưu HS – TA- VP(03). | THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phạm Như Long |