vanban.org

Bản án 59/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mạc Thị H: Cho chị Mạc Thị H được ly hôn với Anh Hoàng Văn B.

Về con chung: Giao cho chị Mạc Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Hoàng Hải Y, sinh ngày 11/10/2012 và Hoàng Huy K, sinh ngày 23/10/2016 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mạc Thị H: Cho chị Mạc Thị H được ly hôn với Anh Hoàng Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC NGẠN
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 02/8/2022.
V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Thể

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Giáp Văn Phẩm.

2. Bà Nguyễn Thị Công Mừng.

Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 240/2022/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2022 về việc ly hôn, tranh chấp về con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 7 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Mạc Thị H, sinh năm 1994 (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang

Bị đơn: Anh Hoàng Văn B, sinh năm 1990 (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn P, xã Q, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang chấp hành án tại Đội 10, phân trại 4, Trại giam Tân Lập, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Mạc Thị H trình bày:

Chị và Anh Hoàng Văn B kết hôn với nhau vào ngày 30/5/2012, trước khi cưới có được tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, được gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Cưới xong chị về nhà anh B làm dâu ngay, anh chị sống tại Thôn P, xã Q, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc. Đến tháng 5/2020 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Gia đình họ hàng hai bên cũng có hòa giải cho vợ chồng nhưng không thành. Chị H và anh B đã ly thân từ tháng 02/2021 đến nay không còn gọi điện, hỏi thăm, liên lạc gì với nhau nữa. Nay Chị H xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với Anh Hoàng Văn B.

Về con chung: Chị và anh B có 02 con chung là Hoàng Hải Y, sinh ngày 11/10/2012 và Hoàng Huy K, sinh ngày 23/10/2016. Hiện cả hai con chung đang ở với Chị H, con chung vẫn khoẻ mạnh phát triển bình thường. Nay ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc cả 02 con chung; Chị Mạc Thị H không yêu anh B cấp dưỡng nuôi con, không đề nghị Tòa án giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Mạc Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 07/6/2022 Anh Hoàng Văn B trình bày: Anh và Chị H có đăng ký kết hôn vào năm 2012, trước khi kết hôn được tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Trong quá trình chung sống do anh B thường xuyên chơi bời dẫn đến việc anh B bị nghiện ma tuý nên mâu thuẫn giữa vợ chồng nảy sinh ngày một nhiều. Hai vợ chồng anh B và Chị H đã ly thân từ tháng 6/2020. Nay Chị H khởi kiện ly hôn anh, anh hoàn toàn đồng ý ly hôn với chị Mạc Thị H. Về con chung: Anh và Chị H có 02 con chung là Hoàng Hải Y, sinh ngày 11/10/2012 và Hoàng Huy K, sinh ngày 23/10/2016. Hiện cả hai con chung đang ở với Chị H, con chung vẫn khoẻ mạnh phát triển bình thường không bệnh tật gì. Nay ly hôn, anh có nguyện vọng để Chị H tiếp tục chăm sóc các con chung; Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Hoàng Văn B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do anh đang chấp án tại Đội 10, phân trại 4, Trại giam Tân Lập, tỉnh Phú Thọ, nên anh xin vắng tại phiên họp kiểm tra việc tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải cũng như xét xử vụ án

Tại biên bản lấy lời khai ngày 06/6/2022, cháu Hoàng Hải Y trình bày: Nếu bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện vọng tiếp tục ở cùng mẹ là chị Mạc Thị H.

Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Mạc Thị H và Anh Hoàng Văn B vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự: Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mạc Thị H: Cho chị Mạc Thị H được ly hôn với Anh Hoàng Văn B.

Về con chung: Giao cho chị Mạc Thị H nuôi dưỡng 02 con chung là Hoàng Hải Y, sinh ngày 11/10/2012 và Hoàng Huy K, sinh ngày 23/10/2016. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị Mạc Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về thủ tục tố tụng:

. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Mạc Thị H có đơn xin ly hôn đối với Anh Hoàng Văn B. Bị đơn Anh Hoàng Văn B có hộ khẩu thường trú tại Thôn P, xã Q, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang. Do vậy đây là đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Mạc Thị H vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Hoàng Văn B đã có lời khai có trong hồ sơ vụ án và có đơn xin xét xử vắng mặt vì anh đang chấp hành án tại Trại giam Tân Lập, tỉnh Phú Thọ. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án vắng mặt Chị H, anh B theo thủ tục chung.

. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Mạc Thị H và Anh Hoàng Văn B kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 30/5/2012. Do vậy xác định đây là hôn nhân hợp pháp.

Theo trình bày của chị Mạc Thị H vợ chồng chị chung sống tình cảm ban đầu hòa thuận hạnh phúc nhưng chỉ được thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh chơi bời nên thường xuyên xảy ra xung đột cãi nhau. Năm 2020, anh B có hành vi vi phạm pháp luật và phải chấp hành án tại Trại giam Tân Lập, tỉnh Phú Thọ. Nay chị Hiền xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài. Anh Hoàng Văn B cũng xác định vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng do anh chơi bời, nghiện ma túy, nên anh đồng ý ly hôn với chị Hiền. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị Hiền và anh B mâu thuẫn là có thật, việc vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Mạc Thị H, cho chị Mạc Thị H được ly hôn với Anh Hoàng Văn B.

Về con chung: Chị Mạc Thị H và Anh Hoàng Văn B có hai con chung là Hoàng Hải Y, sinh ngày 11/10/2012 và Hoàng Huy K, sinh ngày 23/10/2016. Khi ly hôn chị Hiền có nguyện vọng được nuôi dưỡng hai con chung của vợ chồng. Xét yêu cầu được nuôi con chung của chị Mạc Thị H, Hội đồng xét xử thấy chị Mạc Thị H có chỗ ở, công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung phát triển đảm bảo. Hiện nay các con chung sống cùng với chị Mạc Thị H, các cháu đều phát triển khỏe mạnh, không bệnh tật gì. Hơn nữa cháu Hoàng Hải Y cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng chị Mạc Thị H, Anh Hoàng Văn B hiện tại đang chấp hành án tại trại giam Tân Lập không có điều kiện chăm sóc con chung đồng thời cũng có nguyện vọng để Chị H nuôi dưỡng các con chung. Do vậy cần giao cháu Hoàng Hải Y, sinh ngày 11/10/2012 và Hoàng Huy K, sinh ngày 23/10/2016 cho chị Mạc Thị H nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị Mạc Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Mạc Thị H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Chị Mạc Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí mà Chị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mạc Thị H: Cho chị Mạc Thị H được ly hôn với Anh Hoàng Văn B.

2. Về con chung: Giao cho chị Mạc Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Hoàng Hải Y, sinh ngày 11/10/2012 và Hoàng Huy K, sinh ngày 23/10/2016 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét, giải quyết, vì đương sự không yêu cầu. Sau khi ly hôn Anh Hoàng Văn B được quyền thăm nom con chung, không ai được ngăn cản Anh Hoàng Văn B thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị Mạc Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí mà chị Mạc Thị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số 0010843 ngày 26 tháng 5 năm 2022.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Cỡ chữ