vanban.org

Bản án 59/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ph ly hôn với anh Nguyễn Xuân T. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Về con chung: Xử giao cháu Nguyễn Xuân P; Sinh ngày: 28/10/2018 cho chị Nguyễn Thị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Xuân P trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Xuân T không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung. Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Xuân T có quyền, nghĩa v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi dưỡng con chung giữa chị Nguyễn Thị Ph và anh Nguyễn Xuân T."
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ph ly hôn với anh Nguyễn Xuân T. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN B
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 59/2022/HNGĐ - ST
Ngày 23/9/2022
V/v " Ly hôn, tranh chấp nuôi dưỡng
con chung khi ly hôn ”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÀO CAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Như Long

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Tuấn Thịnh

2. Bà Trần Thị Huệ

Thư ký phiên tòa: Ông Hà Tiến Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2022. Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 119/2022/TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi dưỡng con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2022/QĐXXST - HNGĐ ngày 24 tháng 8 năm 2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 60/2022/QĐST - HNGĐ ngày 09/9/2022 giữa các đương sự:

1- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ph - Sinh năm: 1976.

Địa chỉ: Tổ dân phố P1, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên tòa.

2- Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân T - Sinh năm: 1972.

Địa chỉ: Tổ dân phố số 3, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai – Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 09/6/2022 và các bản tự khai của chị Nguyễn Thị Ph cùng toàn bộ tài liệu chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án thì chị Nguyễn Thị Ph và anh Nguyễn Xuân T kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai vào ngày 20/3/2018. Sau ngày kết hôn, vợ chồng về chung sống hoà thuận hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính dẫn đến việc chị Nguyễn Thị Ph làm đơn xin ly hôn anh Nguyễn Xuân T là do bất đồng quan điểm trong làm ăn và tạo dựng cuộc sống gia đình, nuôi dậy con cái, dẫn đến vợ chồng cãi chửi nhau, thiếu sự tôn trọng đối với bản thân và đôi bên gia đình. Khi mâu thuẫn sảy ra vợ chồng đã được gia đình, anh em khuyên giải nhiều lần nhưng đều không có kết quả. Anh Nguyễn Xuân T không có trách nhiệm gì với gia đình vợ, con. Thực tế vợ chồng đã tự sống ly thân từ tháng 6/2021 cho đến nay, không ai quan tâm thăm hỏi gì đến nhau và cũng không có trách nhiệm gì với nhau nữa. Đến nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị Nguyễn Thị Ph có yêu cầu và nguyện vọng xin được ly hôn với anh Nguyễn Xuân T.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ph xác nhận chị và anh Nguyễn Xuân T, chung sống với nhau đến nay đã có 01 con chung, cháu Nguyễn Xuân P - Sinh ngày: 28/10/2018. Hiện nay cháu khỏe mạnh và phát triển bình thường không ốm đau bệnh tật gì và hiện tại cháu đang ở cùng với chị Nguyễn Thị Ph tại Tổ dân phố P1, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Khi ly hôn chị Nguyễn Thị Ph có yêu cầu và nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Xuân P cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị Ph không yêu cầu anh Nguyễn Xuân T phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ph xác nhận trong thời gian chung sống chị và anh Nguyễn Xuân T chưa tạo dựng được tài sản gì chung. Nên khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về công nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ph xác nhận trong thời gian chung sống chị và anh Nguyễn Xuân T không vay mượn gì của ai và cũng không cho ai vay mượn gì. Nên khi ly hôn chị Nguyễn Thị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Xuân T trong quá trình giải quyết vụ án thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú, tại nơi cư trú bản thân anh không có ai là họ hàng, người thân thích, do vậy việc tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Xuân T Tòa án không thể tiến hành được, Tòa án đã phải thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để anh Nguyễn Xuân T thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Do vậy vụ án này tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Trình bày những quan điểm về xác định thẩm quyền thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng và các biện pháp thu thập chứng cứ, trình tự, thủ tục tố tụng tại phiên tòa cũng như trong quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã thực hiện đầy đủ các bước thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành các quy định của pháp luật cố tình trốn tránh, không chấp hành theo yêu cầu của Tòa án, gây khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên Tòa án đã tiến hành các biện pháp tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Sau khi nhận định đánh giá đại diện Viện kiểm sát đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Nguyễn Thị Ph ly hôn với anh Nguyễn Xuân T.

Về con chung: Xử giao cháu Nguyễn Xuân P - Sinh ngày: 28/10/2018 cho chị Nguyễn Thị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Xuân P trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Xuân T không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản và công nợ: Viện kiểm sát không đề cập.

Tuyên nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm vấn công khai tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy:

. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ph và anh Nguyễn Xuân T kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai vào ngày 20/3/2018. Đây là một hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau ngày kết hôn vợ chồng về chung sống hoà thuận hạnh phúc đã có 01 con chung, đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến việc chị Nguyễn Thị Ph làm đơn xin ly hôn anh Nguyễn Xuân T là do quan điểm, cách sống của vợ chồng không thống nhất với nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình, nuôi dậy con, dẫn đến vợ chồng thường xuyên sảy ra cãi chửi lẫn nhau, thiếu sự tôn trọng đối với bản thân và đôi bên gia đình, cuộc sống chung không hạnh phúc. Thực tế vợ chồng đã tự sống ly thân từ tháng 6/2021 cho đến nay. Trong thời gian này vợ chồng không quan tâm thăm hỏi gì đến nhau và cũng không có trách nhiệm gì với nhau nữa. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn ngày 09/6/2022 chị Nguyễn Thị Ph làm đơn khởi kiện xin được ly hôn với anh Nguyễn Xuân T.

Đối với anh Nguyễn Xuân T trong quá trình giải quyết vụ án thường xuyên vắng mặt tại nơi cư trú do vậy việc tống đạt các văn bản tố tụng cho anh Nguyễn Xuân T Tòa án không thể tiến hành được đã phải thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật để anh Nguyễn Xuân T thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án anh anh Nguyễn Xuân T không những không trả lời Tòa án bằng văn bản về những yêu cầu và nguyện vọng của mình đối với yêu cầu xin ly hôn và nuôi dưỡng con chung của chị Nguyễn Thị Ph mà thậm chí anh Nguyễn Xuân T cố tình trốn tránh, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Do vậy vụ án này Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay chị Nguyễn Thị Ph vẫn giữ nguyên quan điểm xin được ly hôn đối với anh Nguyễn Xuân T với lý do tình cảm vợ chồng không còn mâu thuẫn đã trầm trọng không thể khắc phục được, cuộc sống chung không hạnh phúc.

Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ph và đề nghị của đại diện viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với các qui định tại Khoản 1 Điều 56 luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ph và ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ đúng pháp luật.

.Về con chung: Tại phiên tòa hôm nay và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chị Nguyễn Thị Ph xác nhận: Chị và anh Nguyễn Xuân T, chung sống với nhau đến nay đã có 01 con chung cháu Nguyễn Xuân P - Sinh ngày: 28/10/2018. Hiện nay cháu khỏe mạnh phát triển bình thường không ốm đau bệnh tật gì và hiện tại cháu Nguyễn Xuân P đang ở với chị tại Tổ dân phố P1, thị trấn P, huyện B, tỉnh Lào Cai. Khi ly hôn chị Nguyễn Thị Ph có yêu cầu và nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Xuân P cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị Ph không yêu cầu anh Nguyễn Xuân T phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.

Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ph và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về việc nuôi dưỡng con chung là có căn cứ. Bởi lẽ kể từ khi anh chị xảy ra mâu thuẫn và sống ly thân thì anh Nguyễn Xuân T thường xuyên vắng mặt tại địa phương, không quan tâm gì đến chị và cháu, để mặc cháu nhỏ cho chị Nguyễn Thị Ph chăm sóc, nuôi dưỡng. Mặt khác bản thân chị Nguyễn Thị Ph cũng xác định chị có thu nhập ổn định, đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu Nguyễn Xuân P cho đến khi cháu trưởng thành mà không cần sự chu cấp của anh Nguyễn Xuân T. Do vậy để đảm bảo sự ổn định về tâm lý cũng như trong sinh hoạt và quyền lợi về mọi mặt của cháu. Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Ph về việc nuôi dưỡng con chung và giao cháu Nguyễn Xuân P cho chị Nguyễn Thị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Ph xác nhận trong thời gian chung sống chị và anh Nguyễn Xuân T chưa tạo dựng được tài sản gì chung. Nên khi ly hôn chị Nguyễn Thị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết. Viện kiểm sát không đề cập. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về công nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ph xác nhận trong thời gian chung sống chị và anh Nguyễn Xuân T không vay mượn gì của ai và cũng không cho ai vay mượn gì. Nên khi ly hôn chị Nguyễn Thị Ph không yêu cầu Tòa án giải quyết. Viện kiểm sát không đề cập. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

. Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 4 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Ph ly hôn với anh Nguyễn Xuân T. Quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Xử giao cháu Nguyễn Xuân P; Sinh ngày: 28/10/2018 cho chị Nguyễn Thị Ph trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Nguyễn Xuân P trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Xuân T không phải cấp dưỡng tiền nuôi dưỡng con chung.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Xuân T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.

3.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Ph phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002980 ngày 27/6/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lào Cai.

Xác nhận chị Nguyễn Thị Ph đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án.

Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ